RAJA YOGA

Raja Yoga: The Occult Training of the Hindus

http://en.wikipedia.org/wiki/Ernest_Wood
Ernest Wood

Chương 1

Bảy trường phái Yoga

Sự thực tế của ngườI Ấn Độ

Những người châu Âu, những ngườI da trắng được gọI chung là như vậy ở Ấn Độ, thường nói rằng những ngườI Hindu là không thực tế và tôn giáo của họ là bi quan. NgườI Hindu không trả lờI lạI điều này, nhưng nghĩ rằng, và nói vớI những ngườI anh em của anh ta, rằng những ngườI Âu châu, nhìn qua lớp kính đã được nhuộm màu cá tính của riêng họ, tưởng tượng ra rằng những gì anh ta nhìn thấy chính là của màu sắc đó. Sự thật đơn giản là ngườI châu Âu không thực tế và bi quan, trong khi Ấn Độ thực tế và lạc quan.

Chúng ta thử xem xét ví dụ về Buddha Gautama. Khi còn là một thanh niên, ông đã đi đến kết luận rằng thế giớI này là đầy những khổ đau, và trái tim nhân hậu đã làm ông cảm thấy rằng những nỗI đau khổ của chúng sinh cũng là những nỗI đau khổ của chính ông, ông đã không chấp nhận những gì thường được gọI là điều không thể nào tránh khỏI, và tìm cách tránh khỏI sự đau khổ trong cuộc đờI của ông cũng như của ngườI thân, nhưng ông đã nói, “PhảI có một lời giảI cho vấn nạn này, và ta sẽ quyết đi tìm.” TrảI qua nhiều năm ông đã theo đuổI mục đích này, du hành qua nhiều nơi, thiền định, thực hành yoga, cho đến khi ông phát triển được những viễn ảnh huyền bí, và khám phá ra được sự giảI thoát tâm linh mà từ ngày đó đã mang lạI hạnh phúc và sự tiến bộ cho hàng ngàn triệu ngườI của Phật giáo.

Một lần nữa, khi Shri Shankaracharya nhận ra rằng những kiến thức đến vớI chúng ta thông qua những giác quan không phảI là thực chất của sự việc, ông đã không giả sử rằng, như những ngườI châu Âu thường làm, là sai số là không thể nào tránh khỏI, nhưng ông đã làm việc và thông qua yoga đã mở ra những quyền năng của một nhận thức cao hơn, và do đó đã tìm ra được sự thật về thế giới. Hai con ngườI vĩ đạI đó, và những ngườI khác đã đi theo con đường của họ một cách thành công, đã đem lạI cho chúng ta kiến thức rằng con ngườI là trong một quá trình phát triển về tâm lý trong đó những thay đổI rất quyết định đang xảy ra, và rằng khi anh có thể đang có một đuôi nòng nọc bơi dướI nước, và sau đó tạI một thờI điểm tiến triển nhất định nào đó nó sẽ phát triển thành chân, và đem lạI một đờI sống rộng lớn hơn khỏI mặt nước, do vậy có những ngườI, vẫn còn đuôi nòng nọc, về mặt tâm lý và tinh thần, nhưng thờI điểm sẽ đến khi tất cả mọI ngườI đều phát triển những quyền năng cao hơn của trí óc để giúp anh ta nhận ra sự thật, và một cách ý thức đi vào đờI sống siêu nhân loạI tràn ngập thế giớI của chúng ta.

Nếu như những ngườI châu Âu nói rằng đốI vớI anh ta dường như không có nhiều lợI ích thực tế đem lạI cho nhân loạI từ những lờI dạy đó, câu trả lờI là, ”Thật là đúng như vậy, trong những phạm trù mà ngườI châu Âu quan tâm. Nhưng điều đó khá là không đúng ở Ấn Độ, khi hàng ngàn ngườI chủ tâm thực hành yoga và đã thành công. Và vớI những điều kiện về xã hộI và thể chất nói chung, có những thứ luôn luôn biểu diễn không nhiều thì ít sự phát triển chung của một chủng ngườI hay của một quốc gia mà trong đó họ đang có quyền tự chủ.”

Tiếp đó, ngườI châu Âu sẽ nói rằng nếu như anh ta tin vào những năng lực cao hơn của con ngườI, có vẻ như là chỉ một vài ngườI có thể đạt được những khả năng đó, cho dù là họ đã cố gắng hết mức đi chăng nữa, và bởI vì cuộc đờI quá ngắn ngủI, và quá nhiều ngườI là kém phát triển. Câu trả lờI cho sự chỉ trích đó là trong những khám phá của sự thật có một sự kiện là cuộc đờI không phảI là ngắn ngủi. Chỉ đơn giản là cuộc đờI của một cơ thể là ngắn ngủi. Con ngườI chỉ là kẻ trú ngụ trong cơ thể, và khi cơ thể hao mòn, không sớm thì muộn anh ta sẽ chuyển sang một cơ thể khác, và nói chung là một cơ thể tốt hơn, và thực ra là bao nhiêu cũng được tuỳ thuộc vào nhu cầu của anh ta cho đến khi nào anh ta đạt được sự hoàn hảo của con ngườI, và không cần một loạI kinh nghiệm nào thuộc loạI này nữa. Bao nhiêu lâu để anh ta hoàn thành quá trình này là phụ thuộc vào ý nguyện riêng của anh ta. Nếu như anh ta quyết chí, như là một học sinh chăm chỉ ở trường, cố gắng hết sức mình, sự tiến bộ của anh ta sẽ nhanh chóng; nếu không, quá trình sẽ chậm chạp.

Ý nghĩa của Yoga

Tất cả những cố gắng có chủ đích hướng về mục đích cuốI cùng này có thể được gọI là yoga. Từ yoga mang hai ý nghĩa. Thứ nhất là sự kết hợp vớI đờI sống thiêng liêng toả khắp thế giớI – và đây là mục đích của đờI sống con người. Ý nghĩa thứ hai là một hệ thống các bài tập của việc tự huấn luyện, tu tập và thực hành hướng về mục đích đó được sắp xếp một cách khoa học. Về việc thực hành yoga, có bảy trường phái khác nhau. Các trường phái này không phảI là trái ngược lẫn nhau, nhưng phương pháp có phần hơi khác nhau, bởI vì có bảy loạI ngườI khác nhau trong thế giới. Những loạI này thuộc về bảy cánh sao khác nhau, và tôi đã viết khá nhiều về điều đó trong một cuốn sách trùng tên. Bảy trường phái Yoga là:

1. Raja Yoga của Patanjali
2. Karma Yoga của Shri Krishna
3. Jnana Yoga của Shri Shankaracharya
4. Hatha Yoga
5. Laya Yoga
6. Bhakti Yoga
7. Mantra Yoga

Raja Yogas

Trong suốt khoá học gồm ba bài giảng trình bày trong cuốn sách này, tôi chỉ đề cập đến ba trường phái đầu, mà thường được gọI chung là Raja Yoga. Đó chính là raja hay là yoga hoàng gia, bởI vì trong mỗI trường hợp ngườI thực tập phảI hướng đến việc trở thành chủ nhân hoàn toàn của bản thân và cuộc đờI của anh ta thông qua ý chí, tình thương và ý nghĩ của anh ta, mỗI thứ là một quyền năng khác nhau. Những thứ này chảy qua con ngườI, từ God xuống trái đất, và trong việc sử dụng và phát triển những quyền năng đó mà con ngườI mãi mãi đi vào cuộc sống vĩnh hằng của God một cách hoàn toàn hơn. NgườI Hindu dứt khoát cho rằng, theo Emerson, “Không có một thanh chắn hay một bức tường nào trong linh hồn con ngườI mà God nguyên nhân không thể đi qua, và từ con ngườI những hệ quả bắt đầu.”

Ba loạI yoga này có thể được thực hành cho đến một mức độ khá cao mà không gây ra nguy hiểm nào cả (ngoạI trừ những ngườI ngớ ngẩn) mà không cần sự hiện diện của một vị thầy chỉ dẫn, mà chỉ cần sự giúp đỡ của một cuốn sách đơn giản như cuốn này. Nhưng bốn loạI yoga còn lạI không nên thực hành, và nếu như một ai đó thực tập một cách triệt để có thể có những rủI ro tức khắc về rốI loạn trong cơ thể, bệnh tật hay là hoá điên. Sau một câu như vậy, có lẽ cần phảI nói một ít về những loạI yoga đó.

Hatha Yoga

Hatha Yoga bao gồm một chuỗI các động tác thanh lọc cơ thể và các bài thực hành, và những phương pháp thở phức tạp, qua cách đó ngườI yogi có thế giúp đỡ rất nhiều trong việc làm chủ của thể bề trên đốI vớI phần dướI của bản thân, và giúp cho cảm hứng và trực giác của thể bề trên phản ánh trực tiếp vào não bộ. PhảI có một sự liên quan hoàn thiện giữa bản thể bên trong và cơ thể, từng điểm một, và cũng như tâm trí có thể ảnh hưởng lên cơ thể, một số điều kiện nhất định của cơ thể có thể làm thức tỉnh trí óc. Yoga này, trong cách thức thuần tuý và có lợI, sử dụng luật về những tương ứng đó, nhưng chỉ có những bậc thầy vớI những khả năng nhìn xuyên suốt những điều kiện của học trò một cách hoàn thiện và đáng tin cậy, có thể theo dõi tiến bộ của anh ta và đưa ra những cách thở chính xác và những bài tập khác mà anh ta phảI theo. Không có một ngườI thầy như vậy, ngườI học trò như là một ngườI bệnh cố gắng tự chữa chạy anh ta bằng cách uống thuốc một cách ngẫu nhiên. VớI sự giúp đỡ của ngườI thầy, sự hài hoà to lớn giữa bản thể bên trong và cơ thể bên ngoài là có thể đạt được.

Laya Yoga.

Laya Yoga là một khoa học khác hẳn – việc sử dụng lửa trong cơ thể. Tất cả chúng ta đều biết rằng sự tiêu thụ không khí thông qua hai lá phổI là một quá trình đốt cháy chậm, thế nhưng những yogi (bậc thầy về yoga) biết đến một loạI lửa khác, mà có thể diễn tả như là (mặc dù không chính xác) một thứ giống nhiều hơn bản chất tự nhiên của dòng điện vớI năng lượng đằng sau và trở kháng đằng trước. LoạI lửa trong cơ thể này được gọI là kundalini, và nó dâng lên gần phía cuốI của cột sống và chảy qua sáu trung tâm, hay là chakras như là chúng được gọI, như thường được liệt kê ở Ấn Độ, nằm ở những khoảng cách bằng nhau dọc theo cột sống, nhưng được nốI vớI nhiều trung tâm thần kinh lớn khác nhau dày đặc trong cơ thể vật chất, cũng giống như là những trung tâm khác trong phần ête của cơ thể, cũng như là trong những cơ thể tinh tế hơn. Bằng một số phương pháp nhất định được truyền dạy trong trường phái này, ngọn lửa có thể được khuấy động và tăng cường cường độ, được chia thành nhiều mức độ khác nhau, và sau đó được hướng dẫn theo một đường đi qua các chakras, trong mỗI chakras sẽ làm thức tỉnh con ngườI trong cơ thể vớI những quyền năng của yoga mà có vẻ là tuyệt diệu đốI vớI những ngườI khác, nhưng đốI vớI anh ta chỉ là hoàn toàn vấn đề có cơ sở khoa học, trong đó anh ta sử dụng cơ thể của mình như là một công cụ. Luyện theo hướng này mà không có sự chỉ dẫn của một ngườI thầy chắc chắn sẽ đem lạI những kết quả bất hạnh.

Bhakti Yoga

Bhakti Yoga rất gần vớI Karma Yoga được đề cập đến vớI vị trí thứ hai trong danh sách, và tôi sẽ nói nhiều về đề tài đó trong bài giảng thứ hai. Sự thực hành phương pháp này là một sự thành tâm hoàn toàn đốI với God thông qua một hiện thân đặc biệt nào đó của Ngài, chẳng hạn như là Buddha, Krishna, hay là Christ. Điều này nghĩa là sự phục tùng hoàn toàn trước sự vinh quang được công nhận bởI đấng linh thiêng, một dòng chảy không bị ràng buộc của lòng mộ đạo. Điều này có những nguy hiểm của nó, như là các bệnh viện tâm thần ở phương tây đã chứng minh điều đó, và một ký ức nhuộm đỏ của các cuộc chiến tranh và những bạo lực đã chứng kiến trong lịch sử; dù cho đó là một con đường có thể đi theo mà không cần một sự hướng dẫn đặc biệt nào cả, miễn là sự phát triển của trí thông minh và ý chí trong đờI sống thông thường không bị bỏ rơi một cách quá đáng. Rất nhiều nhà thờ và các tổ chức khác đang bận rộn theo con đường này, nhưng phần lớn họ đã bỏ qua điều chủ yếu của phương pháp này vì họ hướng sự chú ý về God và Christ như là một thứ để cho những ngườI yếu bóng vía dựa vào hay là một dòng suốI của các sự phù hộ cho các mong ước mang tính cá nhân, hơn là như một thứ tuyệt diệu đến mức mà chỉ cần nhìn thấy Điều đó ngườI ta sẽ mất hết các tham muốn cá nhân một cách hoàn toàn, quên đi chính mình trong khi suy ngẫm về điều đó, và thêm vào một dạng mớI của sự say mê cho những kho tàng bất tử của linh hồn.

Mantra Yoga

Trường phái thứ bảy của yoga được gọI là Mantra Yoga. Một mantra (thần chú) là một dạng của lờI nói trong đó âm thanh cũng như ý nghĩa đều có tác dụng. Có thể nói rằng có trong mọI dạng vật chất – những thứ cuốn hút tai cũng như những thứ ảnh hưởng đến mắt – sự hiện diện và quyền năng của sự linh thiêng. Tất cả mọI thứ đều ảnh hưởng chúng ta, theo dạng của nó. Chẳng hạn như, nếu như bạn đi vào một phòng lớn chủ yếu đường trang hoàng bởI các dạng đường thẳng, bạn sẽ thấy tinh thần phấn chấn; nhưng nếu bạn bước vào một phòng đầy những đường cong và những dạng bông hoa, nó sẽ làm khuấy động tình cảm của bạn. Cũng như là ảnh hưởng của âm nhạc – điều này được đã được biết đến rất rõ. Khi mà, thông qua bất kì của các hình dạng này chúng ta bắt được một thoáng nhìn của sự linh thiêng, chúng ta gọI đó là cái đẹp. Cái đẹp và quyền năng của God chạm vào chúng ta trực tiếp trong những thứ thuộc về vật chất. Cái đẹp đó có thứ mà có thể được gọI là cơ sở toán học; có những nhịp điệu và những sự cân bằng nhất định mà thông qua đó cái đẹp có thể đặc biệt chạm vào cái cơ bản của con người. Mantra, do đó, là những dạng của âm thanh được đưa ra vớI sự lặp đi lặp lạI, được tính toán để kết nốI con ngườI vớI sự linh thiêng bằng cách giúp đỡ anh ta trong những cảm hứng về tinh thần cũng như tình cảm. Tất cả những bài thơ hay là một thứ mantra, bởI vì chúng chứa đựng nhiều hơn là những ý nghĩa thông thường của các từ ngữ trong đó. Tất cả các vẻ đẹp đều ảnh hưởng chúng ta theo cách thức của mantra, nhưng quyền năng của các ấn tượng do vẻ đẹp đem lạI thường bị mất đi bởI sự hiện diện của quá nhiều biến thể và sự rốI loạn cũng như các thay đổI nhanh chóng.

Trong cộng đồng ngườI Nhật sự theo đuổI cái đẹp là một lễ nghi bất tận. Trong đó họ thực hành japa hay là sự lặp lạI cho đến khi hoàn thiện — biết sẽ tiếp tục trong bao lâu và khi nào thì dừng lạI, đi theo một con đường dung hoà – làm cho cái đẹp mà họ tôn thờ là thứ mạnh nhất trong các ảnh hưởng lên con ngườI. Một vài bông hoa – có lẽ chỉ cần một – được cắm ngay ngắn; hai hay ba vật thể đẹp đẽ trong một căn phòng – không thừa thãi – được cất đi và thay thế bởI những thứ khác tạI những khoảng cách thích hợp, nói lên sự hoàn thiện của một chủng ngườI thứ bảy, mà trong đó tính nhất cơ bản nhất của linh hồn con ngườI có nhiều cơ hộI nhất để phát triển.

Trong Mantra Yoga, do đó, âm thanh được sử dụng, cũng như các hình ảnh, các biểu trưng, kí hiệu và cử chỉ, và đôi khi các điệu nhảy. Không nghi ngờ gì khi một vài nghi lễ truyền thống của các nhà thờ Thiên chúa giáo lớn ở phương Tây vẫn tiếp tục, ngay cả là đến ngày hôm nay, những phương pháp hàm chứa những kiến thức về Mantra Yoga trong những ngày đầu của Thiên chúa giáo. Điều đáng chú ý rằng những ngườI Thiên chúa giáo thông thường không được cho phép bởI nhà thờ của họ trong việc thực hành những nghi lễ này, mặc dù họ có thể tham gia khi chúng được điều khiển bởI những thầy tu đã được cho phép.

Chúng ta không được giả sử rằng sự thực hành của bốn phương pháp trên bị cấm hoàn toàn nếu như không có sự hiện diện của một ngườI thầy có khả năng. Các bài tập thở, sự thực tập thư giãn, japa hay sự lặp đi lặp lạI, và những thứ khác như vậy đều có lợI ích và an toàn nếu được làm vừa phảI và trong một cách thức đơn giản, nhưng những phép thở vào một lỗ mũi và thở ra lỗ mũi khác hay là sự lặp đi lặp lạI của mantra đến khi một trạng thái nửa như là lên đồng xảy ra là nên tránh.

MỗI loạI yoga đều chứa đựng một thứ gì đó của các loạI khác, nhưng mỗI loạI mang một tên mà nó chuyên biệt, và đặt nó lên hàng đầu của trình tự tập, trong khi những thứ khác chỉ là phụ. Do vậy trong trường phái của Patanjali ý chí của con ngườI là sức mạnh chính, mà thế nhưng vẫn có thiền định, điều hoà hơi thở, và luyện tập các tư thế. Trong trường phái của Krishna tình thương là quyền năng mạnh nhất được sử dụng, nhưng cũng có những thiền định về tinh thần và các bài tập thể dục cơ thể cũng được đưa ra.

Chương 2

Yoga của ý chí và tự do của Patanjali

Phương pháp và mục đích

Pantajali, trong quyển Yoga Sutra nổI tiếng, đã miêu tả yoga như là chitta vritti nirodha. Chitta là trí óc, là công cụ đứng giữa con ngườI và thế giới. Được tác động lên bằng những thứ của thế giớI bên ngoài thông qua các giác quan nó trình bày cho con ngườI bên trong một hình ảnh của những thứ đó, như là một tấm thu của một máy ảnh. Được tác động lên bởI những ý nghĩ của con ngườI bên trong, nó chuyển đổI thành những hành động của cơ thể những sức mạnh của ý nghĩ vốn là bản chất tích cực của nó. Do vậy trí óc có hai chức năng – một là thu nhận và thụ động, và hai là chủ động và tích cực. Nó truyền từ thế giớI bên ngoài vào con ngườI ở bên trong, và ngược lạI từ con ngườI bên trong ra thế giớI bên ngoài. Vritti nghĩa là cuộn xoáy, và nirodha nói lên sự kiềm chế hoặc điều khiển. Do vậy thực tập yoga nghĩa là điều khiển những xáo động của trí óc, hay trong từ ngữ đơn giản là điều khiển hoàn toàn cái mà chúng ta thường gọI là ý nghĩ.

Trí óc của một con ngườI trung bình là rất xa khỏI tầm kiểm soát của anh ta. Nó bị tác động lên trong mọI lúc, ngay cả trong lúc ngủ ở một mức độ nào đó, vớI hình ảnh của hàng ngàn đốI tượng hò hét để gây sự chú ý đốI vớI anh ta – thông qua tai, da, mắt, mũi, miệng, và bởI những ấn tượng thần giao cách cảm từ thế giớI tâm linh. Thêm vào tất cả những thứ đó, là một trạng thái xao động của riêng chính nó, sôi sục trong trăm nơi vớI những viễn ảnh rốI loạn, kích hoạt bởI những tình cảm không điều khiển được hoặc là những ý nghĩ lo lắng. Hãy để anh ta đạt được sự điều khiển tất cả những thứ này, Patanjali nói, và phần thưởng là anh sẽ duy trì ở trong trạng thái vốn thật là bản chất của anh ta. Rằng một ngườI nên ở trong bản chất thật sự của anh ta có hai nghĩa: thứ nhất, trong sự yên tĩnh của trí óc, anh sẽ hoàn toàn chính là anh ta, không bị ảnh hưởng bởI những xao động, dù là nhỏ cách mấy đi nữa, mà trong mắt ngườI yogi chỉ là sự lo lắng, và thứ hai trong hành động của anh ta là một ngườI sử dụng trí óc một cách tích cực, không chỉ đơn thuần là một trạm chứa đựng những ấn tượng từ thế giớI bên ngoài và những ý nghĩ mà anh ta thu nhặt qua thờI gian.

Ý tưởng trong trí óc nên là vật liệu cho sự suy nghĩ, không chỉ đơn thuần là ý tưởng, cũng như cơ bắp là những phương tiện có ích cho hành động, chứ không chỉ đơn thuần là những khốI thịt. Thế nhưng phảI thú nhận rằng trong nhiều trường hợp chúng ta đã tiêu tốn hết tất cả năng lượng tinh thần để nắm lấy một vài ý tưởng được đặt ra trước chúng ta, và không có gì còn lạI để suy nghĩ vớI, nghĩa là sử dụng những ý tưởng đó trong những công việc tích cực cho tinh thần. Để trở thành một ngườI suy nghĩ tích cực, một ngườI đầy ý chí và tình thương, là ngườI chủ trong căn nhà của chính mình, là chính bản thân mình, là trở thành một con ngườI; tất cả những thứ còn lạI chỉ là nô lệ và sự lệ thuộc, chấp nhận hay không chấp nhận.

Mục đích của yoga của Patanjali chỉ là thế này — đạt được sự tự do, bởI vì con ngườI nghĩ rằng God là tự do. Thuật ngữ cho thành tựu vĩ đạI đó là kaivalya, sự độc lập. Điều đó thật ra chỉ là một tên khác cho sự linh thiêng, bởI vì vật chất là sự trói buộc, không có khả năng di chuyển, và luôn luôn được di chuyển bởI những lực từ bên ngoài, nhưng sự linh thiêng thì tự do, có khả năng tự di chuyển, và tác động lên những ngườI và vật khác. MỗI ngườI đều cảm thấy trong anh ta một tia sáng của niềm tự do thiêng liêng đó, mà chúng ta gọI đó là ý chí, và đó là sức mạnh mà anh ta sẽ sử dụng để điều khiển đầu óc của anh ta. Tôi đã nói về yoga của Patanjali như là yoga của ý chí, raja yoga loạI đặc biệt, bởI vì trong mỗI phần của nó, tạI từng giai đoạn, ngườI tập sử dụng ý chí của anh ta trong việc tự điều độ chính bản thân mình. Ý nghĩ quản lý sự vật, chúng ta biết; nhiều đến mức mà trong thực tế mỗI cử động tự nguyện của cơ thể đi theo một hình ảnh tinh thần, để tất cả những công việc được làm bởI chúng ta, ngay cả vớI đôi tay, cũng được làm vớI sức mạnh của ý nghĩ. Nhưng ý chí điều khiển ý nghĩ, tập trung nó, mở rộng nó, kiểm tra nó, làm nó lưu chuyển – và trên thực tế là điều khiển ba thao tác lớn của việc tập trung tư tưởng, thiền định, và tĩnh lặng đầu óc.

Hai giai đoạn

Bây giờ, khoá đào tạo trong trường phái của Patanjali được chia ra làm hai phần, các huấn luyện sơ khởI cho những ngườI mớI bắt đầu, và khoá thông thường cho những ngườI đã tiến bộ đến một mức nào đó. Những điều này có thể được so sánh vớI các khoá trung học và đạI học trong các đạI học hiện đạI, trong đó khoá mở đầu chứa đựng nhiều môn khái quát, trong mỗI môn học học sinh phảI đạt được một tiêu chuẩn thành công nào đó, và khoá nâng cao được chuyên sâu hơn. Khoá đầu tiên cần thiết không chỉ để để làm ngườI đó thích hợp vớI khoá thứ hai, mà nó còn cứu anh ta khỏI những hiểm nguy trong các luyện tập sau đó, có thể phát sinh và làm choáng ngợp anh ta nếu như anh ta không có một tư chất cân bằng, có một số khả năng vượt bậc ở một mặt nào đó trong khi các mặt khác thì thiếu hụt nghiêm trọng. Không có nguy hiểm giống như vậy nếu như tất cả các phẩm chất đều yếu kém, như là trong một ngườI trung bình.

Năm thứ bệnh

Mục đích của các yoga sơ khởI là làm giảm đi những thứ được gọI là ‘năm klesha’. Một klesha theo nghĩa đen là một thứ bệnh, cũng như là ngườI ta nói về cột sống bị gù hay là mắt mù hay ung thư là một thứ bệnh. Năm thứ bệnh này là avidya, asmita, raga, dweshaabhinivesha, mà có thể được dịch ra là sự ngu dốt, tính kiêu căng, lòng ham muốn, tính thù ghét, và sự đeo bám vào cuộc sống trần tục của cơ thể. MỗI thứ này có thể dễ dàng là chủ đề của một bài diễn văn dài, hay cả cuốn sách, nhưng tôi phảI tự gói gọn mình trong một vài từ cho mỗI thứ bệnh đó. Chúng là những lỗI lầm của chính bản thân mỗI con ngườI; thế giớI không bao giờ có thể làm hạI chúng ta, ngoạI trừ là thông qua chính lỗI lầm của chúng ta, và năm thứ bệnh này làm suy giảm chúng ta thành những nô lệ đáng thương. Sự ngu dốt có thể tốt hơn nên được gọI là sự không biết, bởI vì nó áp dụng lên tất cả những hoạt động của đầu óc mà không tính đến việc con ngườI là một linh hồn bất tử, trên đường đi của anh ta, trong cuộc hành hương trên trái đất thông qua nhiều thân xác, để đạt đến sự tự do và nhận thức vinh quang về mặt tâm linh, và những thứ có khi là cao hơn như thế nữa. Kiến thức mà không nhắc đến sự việc đó là sự ngu dốt; cũng giống như là những hành động của thú vật chỉ đơn giản là những hành động, trong khi những hành động của con ngườI là công việc, bởI vì có mục đích đằng sau đó. Sự khôn ngoan là cho con ngườI, kiến thức là cho thú vật, ngay cả là chúng ở dướI dạng con người. Thật vậy, tất cả những cố gắng này của yoga là cố gắng vươn lên khỏI tình trạng chỉ đơn thuần là con ngườI, tìm thấy anh ta treo lơ lửng ở giữa trạng thái con vật và những trạng thái linh thiêng.

Sự kiêu ngạo là xu hướng suy nghĩ rằng “Tôi là cái này,” và mong muốn những ngườI khác cũng nghĩ rằng mình là thứ này hay thứ khác. Nhưng dạng thích hợp của ý nghĩ của một cá nhân là “Tôi là ngườI có ý chí, ngườI có tình thương, ngườI biết suy nghĩ, sử dụng cơ thể tôi như là một công cụ để diễn đạt và phát triển những quyền năng đó.” Tự nghĩ mình là một thứ gì, nghĩa là vướng bận vào thứ đó. Điều đó sẽ làm phát sinh đủ loạI lòng tham – là một nguyên do chủ yếu cho những nỗI buồn và đau khổ, mà luôn luôn là một dấu hiệu của một thứ gì đó không ổn, không phảI là vớI thế giớI, mà là vớI chúng ta.

Lòng ham muốn và sự thù ghét là những xung động không có suy luận, dẫn chúng ta đến việc đánh giá và thẩm định giá trị của sự vật bởI ảnh hưởng của chúng lên mức độ tiện nghi và sự vui thú của cá nhân bản thân, chứ không phảI theo những giá trị của chúng cho thể chất con ngườI bất tử. Đó là đặc điểm triệt để của phương Đông về niềm tin vào sự bất tử được áp dụng vào cuộc sống hiện tạI của họ, chứ không hành động như là một ngườI bình thường cho đến khi chết, nghĩ rằng sau đó sẽ khoác lên một dạng bất tử không liên quan đến điều kiện trên trái đất của họ.

Vướng bận vào thể xác chỉ về sự thiếu sáng suốt để làm một ngườI nhận ra rằng cơ thể chỉ là một công cụ, mà anh ta sẵn sàng sử dụng, và mặc nó trong một khoảng thờI gian nào đó. Rất nhiều ngườI sợ một cuộc phiêu lưu nhỏ nhất, bởI vì họ sợ là cơ thể có thể sẽ chịu đựng đau khổ. Họ giống như là một ngườI đàn ông mà tôi nghe vừa mớI mua một chiếc xe hơi mớI, và thường đi đến và ngồI trong gara để thưởng thức của cảI mới, nhưng không dám đem chiếc xe ra đường chạy sợ rằng sự hào nhoáng của xe sẽ mất đi, hoặc tai nạn tình cờ nào đó sẽ xảy ra. Trong thứ bệnh này chúng ta không chỉ đơn thuần sợ chết, mà ta còn sợ tuổI già nữa, bởI vì con ngườI quên rằng đờI sống cơ thể có các giai đoạn của nó — tuổI thơ ấu, tuổI trẻ, trưởng thành, và tuổI già – và mỗI giai đoạn trong quá trình này có những sự hoàn hảo của riêng nó, mặc dù nó không phảI là sự hoàn hảo của các giai đoạn khác. Có những điều luôn luôn mất đi cũng như những điều đạt được, bởI vì không một ai có thể chú ý đến tất cả các bài học của cuộc sống trong cùng một lúc, hay sử dụng cùng một lúc các khả năng của mình, không hơn gì một đứa trẻ ở trường có thể suy nghĩ chính đáng về địa lý, lịch sử, và toán học, trong giờ học đang được dành cho âm nhạc. Trong cuộc sống Hindu, trước khi bị khuấy động bởI phương Tây, ngườI đàn ông lúc về già đủ thông thái để giao lạI cơ nghiệp gia đình cho những ngườI con trai trưởng thành, và rồI tập trung vào việc nghiên cứu và trầm ngâm suy nghĩ về cuộc đờI; cũng chỉ giống như ở phương Tây cha mẹ có nhiệm vụ bắt buộc phảI nuôi dạy con cái vớI đầy đủ tình thương và cho chúng những cơ hộI mà giai đoạn trong cuộc đờI của chúng yêu cầu, cũng như vậy ở phương Đông nghĩa vụ của ngườI con là phụng dưỡng cha mẹ lúc về già vớI đầy đủ tình thương, đốI xử họ vớI sự kính trọng như là nguồn cung cấp những cơ hộI và quyền lực, và tạo cho họ mọI cơ hộI mà giai đọan của cuộc đờI lúc đó đòi hỏi. Hãy để ngườI muốn trở thành yogi, khi đó, tĩnh lặng tầm nhìn của anh ta trên cuộc đờI vô tận của linh hồn, có thể sử dụng nhiều cơ thể, cái này sau cái khác, và tiến triển trên con đường tự hoàn thiện chính là sự tự do bằng cách giữ mục đích đó luôn luôn trong tầm nhìn của anh.
LoạI bỏ các thứ bệnh

Chúng ta không giả sử rằng trong giai đoạn bắt đầu ngườI tập có thể tiêu diệt được tất cả những kleshas này. Mục đích của anh ta sẽ đạt được nếu như anh thành công trong việc làm yếu chúng đi một cách chắc chắn. Sau này, chúng sẽ bị tiêu diệt một cách hoàn toàn. Có ba loạI thực hành được đưa ra cho mục đích này trong khoá sơ khởi. Chúng được gọI là tapas, swadhyaya, và ishwara-pranidhana. Không thể dịch các từ ngữ này ra thành từng từ một, vì chúng sẽ gây ra sự hiểu lầm nghiêm trọng nhất. Cái thứ nhất thường được gọI là sự khổ hạnh, và tôi đã từng thấy nó được diễn tả như là sự hành xác. Từ đó theo nghĩa đen là ‘nhiệt,’ và từ tiếng Anh tương đương gần nhất mà tôi thấy khi áp dụng vào hành xử của con ngườI là ‘cố gắng’. NgườI yogi chắc chắn phảI làm những việc tốt đó, ngay cả khi một cố gắng đặc biệt là cần thiết bởI vì những thói quen của tính cách cá nhân làm cản đường. Một cách ngắn gọn từ đó nghĩa là: “Làm điều gì cho cơ thể mà anh biết là sẽ tốt cho nó, không chỉ đơn thuần để ý đến sự tiện nghi. Đừng để sự lườI biếng, sự ích kỉ, hay là sự thờ ơ đứng cản những điều bạn làm để làm tính cách bạn khoẻ mạnh hơn và hiệu quả hơn trong công việc cần phảI làm trong thế giớI này.” Shri Krishna đã nói như thế này trong bài thứ mườI bảy trong cuốn Bhagavad Gita: “Kính trọng những vị thần linh, những ngườI lớn tuổI, những ngườI thầy và những ngườI thông thái, trong sạch, ngay thẳng, trinh bạch, và không hạI ngườI khác là những tapas của cơ thể; lờI nói ngay thật, ôn hoà và có lợI, và nghiên cứu những lờI kinh sách là tapas của lờI nói; vui vẻ, cân bằng, im lặng, tự kiềm chế, và thật vớI chính mình là tapas của đầu óc.” Làm thế nào mà ngườI ta có thể nói tapas là tự hành hạ chính mình, ngoạI trừ những ngườI không may mắn mà đốI vớI họ việc theo đuổI những hạnh kiểm này đi kèm vớI những căng thẳng không thể nào chịu được?

Thực hành thứ hai, swadhyaya, nghĩa là nghiên cứu các cuốn sách thực sự quan tâm việc bạn là một con ngườI bất tử. Hãy từ bỏ việc đọc tràn lan không phân biệt, và nghiên cứu những gì có lợI cho sự tiến bộ của bạn. Thực hành thứ ba, ishwara-pranidhana, nghĩa là sự thành tâm vớI God, nhưng là God được hiểu bởI ngườI Hindu, như là một Con NgườI hoàn hảo lan toả tất cả mọI sự vật, cuộc sống của thế giớI này, nhận thức vĩ đạI mà trong đó mỗI chúng ta chỉ là một phần nhỏ, cũng như cơ thể chỉ là một phần của vật chất trong thế giớI này. NgườI thành tâm phảI tập thói quen nhìn thấy God trong mọI vật, nhận tất cả mọI thứ như là từ bàn tay của God. “Tất cả mọI thứ nhận được là một món quà,” đó là một câu ngạn ngữ Hindu; hơn thế nữa, đó là một món quà từ God, được ban ra vớI một sự thông thái hoàn hảo, để do đó được nhận vớI sự mừng vui thật lòng nhất. Đằng sau đôi mắt của mỗI ngườI mà anh ta gặp một ngườI thành tâm cũng phảI thấy sự linh thiêng. Cách chào thông thường của ngườI Hindu, do đó (vớI đôi tay chắp lạI, như cách ngườI phương Tây cầu nguyện) trông rất lạ đốI vớI ngườI phương Tây, bởI vì cử chỉ đó giống như là cầu nguyện. Đó chính là cầu nguyện – sự thừa nhận God trong ngườI đồng loạI của chúng ta. Thực hành này phát triển những tình cảm đúng đắn; ý nghĩ đúng đắn trước đó; và đầu tiên nhất, sử dụng ý chí đúng đắn trong công việc; và cả ba thứ này hợp lạI, theo đuổI kiên trì sau một thờI gian, sẽ tấn công mạnh mẽ vào năm thứ bệnh.

MườI điều răn

NgườI tập bây giờ đã đi qua giai đoạn sơ khởi. Anh sẵn sàng cho tám cấp bậc của yoga. Những bậc này có thể được chia ra làm ba nhóm: Hai bậc về đạo đức, ba bậc có tính bề ngoài, và ba bậc hướng về bên trong. Hai bậc về đạo đức mỗI bậc có năm quy định, mà một ngườI phảI thực hành trong đờI sống hàng ngày. Gom lạI chúng tạo thành cái mà ta có thể gọI là ‘mườI điều răn’:”Không được (a) sát hạI ngườI khác, (b) nói dốI, (c) trộm cắp, (d) mất tự chủ, và (e) tham lam.” Năm điều thứ hai là :”PhảI (a) sạch sẽ, (b) bằng lòng, (c) tự chủ, (d) siêng năng và (e) tận tình.” Tôi sẽ không dừng lạI để nói về những điều này, mà chỉ nói rằng không một ai sẽ được dạy bởI các ngườI thầy Ấn Độ ngoạI trừ anh ta quyết tâm đạt được chúng một cách hoàn hảo, và ngoại trừ anh đã đạt được cái mà thế giớI gọI là ở một bậc rất cao.

 

4 Responses to “RAJA YOGA”

  1. htluan Says:

    Năm giới của người thường bên đạo Bụt
    1. Không giết hại
    2. Không trộm cướp
    3. Không tà dâm
    4. Không nói sai bậy
    5. Không uống rượu

    Luân

  2. Tuyen Huynh Says:

    Xin bổ sung phần 5 giới:
    1. Không giết hại (nhất là sát hại người), hạn chế giết hại những con vật khi không cần thiết.
    5. Không uống rượu, có thể hiểu là những chất gây nghiện (rượu, ma túy, thuốc lắc, …) hay những gì có tính chất gây nghiện (cờ bạc, cá độ, số đề, ….) để không bị ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của chính mình cũng như là cuộc sống riêng của gia đình nhỏ của mình.
    Cám ơn mọi người đọc những dòng chữ này.

  3. Tuyen Huynh Says:

    Mình sưu tầm được bài viết này, xin post lên để các anh chị và mọi người cùng xem tham khảo nhé.

    “Tam quy ngũ giới

    I. Tam quy
    Trong cuộc sống, hằng ngày mỗi buổi sáng khi thức dậy, chúng ta suy nghĩ làm sao có tiền, có tình, có địa vị, có thức ăn ngon, có ngủ nghỉ thỏa thích. Để được hưởng thụ những thứ đó, chúng ta phải tính toán, làm việc vất vả, thậm chí nhúng tay vào tội lỗi. Rồi một ngày nào đó theo định luật sinh, trụ, dị, diệt, chúng ta nhắm mắt tắt hơi, bỏ lại những thứ mình ham muốn, suốt đời khổ cực tìm cầu. Đến cõi đời này với hai bàn tay trắng, ra đi cũng hai bàn tay trắng, chỉ còn nghiệp theo mình, đưa mình đến một trong sáu đường: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, A–tu–la, người và trời. Từ vô thỉ kiếp đến nay, chúng ta quanh quẩn mãi trong sáu đường này; mỗi lần sinh, mỗi lần tử là mỗi lần tạo nghiệp, dẫn đến quả báo đau khổ. Máu và nước mắt của chúng ta, nếu tích tụ lại nhiều như nước biển. Xương và thịt của chúng ta, nếu gom lại chất cao như núi. Vì sao chúng ta phải chịu đau khổ sinh tử trong sáu đường này? Vì vô minh. Như người đi trong đêm tối không biết phương hướng, cứ đi mãi vào con đường hiểm nạn, nên bị sụp hầm té hố. Nếu không có ánh đuốc soi đường, chúng ta sẽ mãi mãi đi vào con đường hiểm không có lối ra. Sáu nẻo luân hồi là những con đường hiểm nạn. Tam bảo là ngọn đuốc soi đường, hướng dẫn chúng ta ra khỏi đường hiểm đến chỗ an vui giải thoát.
    Phật là bậc đã giác ngộ, giải thoát khỏi sáu đường, Ngài chỉ cho chúng ta lối ra. Pháp là ngọn đuốc sáng soi đường. Tăng là những vị thầy hướng dẫn chúng ta đi đúng đường. Cho nên, chúng ta cần phải quy y Tam bảo để cứu mình ra khỏi đường hiểm khổ đau, đến chỗ an vui giải thoát.
    1. Tam quy là gì?
    Tam quy nói cho đủ là quy y Tam bảo.
    Quy y: Quy là trở về, quay đầu. Y là nương tựa. Quy y là trở về nương tựa.
    Tam bảo: Tam là ba, bảo là báu. Tam bảo là ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng.
    Quy y Tam bảo là chúng ta quay về nương tựa vào Phật, Pháp và Tăng. Như người con vì si mê đã bỏ cha mẹ đi hoang, bị cuộc đời vùi dập, chịu biết bao đau khổ, đói rách; nay quay về nương tựa cha mẹ để được che chở, thương yêu và hạnh phúc. Như người lái xe đi lầm đường, quay đầu trở lại đi đúng đường. Như người bị đắm thuyền, trôi dạt trên biển cả, bỗng gặp chiếc thuyền khác đến cứu mạng. Sắp chết chìm trong lòng đại dương được thuyền đến cứu vớt, được sống yên ổn trên thuyền, được đưa vào bờ an toàn sinh mạng thì còn niềm vui nào lớn hơn.
    2. Tại sao Phật, Pháp, Tăng quý báu?
    a. Phật có những đặc điểm:
    – Nhận thức nỗi khổ sinh, già, bệnh, chết của con người, từ bỏ cung vàng điện ngọc, dứt bỏ hưởng thụ ngũ dục, chẳng ham vương vị quyền thế, vào rừng tu hành khổ hạnh, tìm cầu chân lý để cứu độ chúng sinh.
    – Chứng được Tam minh: Thiên nhãn minh, Túc mạng minh và Lậu tận minh. Thiên nhãn minh là có thể nhìn thấu suốt ba cõi sáu đường, thấy biết rõ thật tướng của vũ trụ, nhân sinh. Túc mạng minh là biết được quá khứ của mình và của tất cả chúng sinh từ một kiếp đến vô lượng kiếp về trước. Lậu tận
    minh là dứt sạch tất cả mọi phiền não cấu uế.
    – Luôn tỉnh giác, làm chủ ba nghiệp. Thân, khẩu, ý trong sạch không có tỳ vết. Thân tướng trang nghiêm với 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp.
    – Đầy đủ phước đức, trí tuệ. Có khả năng hướng dẫn chúng sinh ra khỏi biển khổ sinh tử, đạt đến giác ngộ, giải thoát rốt ráo.
    – Tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.
    b. Pháp có những đặc điểm:
    – Pháp là lời dạy của Phật, là chân lý.
    – Pháp giúp ta thấy được nhân quả nghiệp báo và nguyên nhân của sinh tử luân hồi.
    – Pháp là con đường đưa người đến chỗ an vui, hạnh phúc và giải thoát khỏi ba cõi sáu đường.
    – Pháp là những phương pháp giúp ta chuyển hóa si mê thành trí tuệ, đau khổ thành hạnh phúc, phiền não thành Bồ đề, chúng sinh thành Phật.
    c. Tăng có những đặc điểm:
    – Là một đoàn thể sống hòa hợp thanh tịnh (lục hòa).
    – Cắt ái ly gia, từ bỏ đời sống hưởng thụ ngũ dục, xuất gia tu học, sống đời phạm hạnh.
    – Là người giữ gìn giới luật của Phật. Là mô phạm cho chúng sinh noi gương học tập.
    – Xem tất cả mọi người là thân bằng quyến thuộc.
    – Sống trọn đời vì lý tưởng phục vụ chúng sinh, hoằng truyền Phật pháp, hướng dẫn mọi người tu học.
    Tóm lại, Phật được gọi là Lưỡng Túc Tôn vì đầy đủ phước huệ. Pháp được gọi là Ly Dục Tôn vì có thể khiến cho hết thảy chúng sinh thoát ly dục lạc. Tăng được xưng là chúng trung tôn vì làm bậc thầy, là khuôn mẫu cho chúng sinh noi theo, bậc tôn quý trong đại chúng. Công đức của Phật, Pháp, Tăng rất nhiều, chúng ta chỉ nêu một vài đặc điểm để dẫn chứng, đủ chứng minh Phật, Pháp, Tăng là quý báu. Ở thế gian này, vàng bạc, ngọc ngà, châu báu tuy quý, nhưng chỉ giúp chúng ta được an vui hạnh phúc tạm thời, không thể giúp chúng ta thoát khỏi sinh tử luân hồi, đau khổ trong sáu đường. Phật, Pháp, Tăng có đủ năng lực hướng dẫn chúng ta ra khỏi sinh tử luân hồi, đến chỗ an vui giải thoát rốt ráo. Cho nên, Tam bảo là quý báu, chúng ta cần phải nương tựa.
    3. Tam bảo có ba bậc:
    Có ba bậc Tam bảo chúng ta cần phải biết
    a. Thế gian trụ trì Tam bảo: Là Phật, Pháp, Tăng tại thế gian.
    * Phật tại thế gian: Là hình tượng Phật mà chúng ta tôn thờ.
    * Pháp tại thế gian: Là tam tạng kinh, luật, luận ghi chép trên giấy hoặc băng đĩa hình.
    * Tăng tại thế gian: Là những vị xuất gia tu học Phật pháp, sống đời phạm hạnh.
    b. Xuất thế gian Tam bảo: Là Phật, Pháp, Tăng ra khỏi thế gian.
    * Phật xuất thế gian: Là đức Phật Thích Ca Mâu Ni và chư Phật đã vượt ra khỏi Tam giới, chứng quả Vô sinh bất diệt.
    * Pháp xuất thế gian: Là giáo pháp của Phật như Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Lục độ vạn hạnh v.v… có khả năng chuyển phàm thành Thánh, chúng sinh thành Phật.
    * Tăng xuất thế gian: Là những vị Tăng đã chứng quả A–la–hán, vượt ra khỏi thế gian, như các ngài Ca Diếp, Xá Lợi Phất, A–nan v.v…
    b. Đồng thể Tam bảo: Là chúng sinh cùng thể tánh với Phật.
    * Đồng thể Phật bảo: Phật là bậc giác ngộ, có đầy đủ trí tuệ, Tam minh Lục thông. Chúng sinh cũng có đầy đủ trí tuệ và khả năng thành Phật như Phật.
    * Đồng thể Pháp bảo: Phật là bậc có đầy đủ đức tính từ bi, nhẫn nhục, tinh tấn… chúng sinh cũng có đầy đủ những đức tính ấy.
    * Đồng thể Tăng bảo: Phật có đầy đủ đức tính thanh tịnh, hòa hợp. Chúng sinh cũng có đầy đủ đức tính ấy.
    4. Sự Lý quy y Tam bảo:
    Quy y Tam bảo có Sự và Lý. Sự là hình thức, Lý là nội dung. Nhờ có Tam bảo bên ngoài, chúng ta mới biết Tam bảo bên trong. Nhờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni chúng ta mới ngộ được Phật tính trong mình. Nhờ kinh, luật, luận chúng ta mới biết pháp chân chính trong mình. Nhờ chư Tăng chỉ dẫn chúng ta mới thấy được vị thầy thanh tịnh trong mình. Muốn ngộ Phật tính, trọn đời chúng ta phải tuân theo đức Phật. Muốn chứng pháp chân chính, trọn đời chúng ta phải học kinh, luật, luận. Muốn thấy tự tính thanh tịnh, trọn đời chúng ta phải nương theo sự hướng dẫn của chư Tăng. Chúng ta phải thể hiện đầy đủ Sự Lý quy y Tam bảo thì việc tu học mới có lợi ích thiết thực.
    * Sự quy y Phật: Đức Phật là người đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vượt khỏi Tam giới, tự tại giải thoát. Chúng ta là những người còn chìm đắm trong bể khổ sinh tử luân hồi sáu nẻo, cần phải nương nhờ vào chiếc thuyền để qua khỏi biển khổ. Người có đủ khả năng để đưa chúng ta đến bờ an vui giải thoát là đức Phật. Do vậy, chúng ta phải quy y Phật. Muốn trở thành người Phật tử, chúng ta phải quy y Tam bảo, phải đối trước hình tượng đức Phật để phát nguyện trọn đời nương tựa, phải tự mình dự lễ quy y và phát nguyện trước Tam bảo. Có những người quy y Tam bảo bằng cách nhờ người nhà quy y dùm là sai nguyên tắc. Trừ trường hợp người muốn quy y bị bại liệt, bệnh nặng hoặc già yếu không thể đến đàn quy y được. Chúng ta có thể phương tiện bằng cách thu hình hoặc thu âm buổi lễ quy y đem về mở cho họ xem, nghe và yêu cầu họ phát nguyện như trong đĩa ghi âm, ghi hình. Có như vậy, người già, bệnh đó mới thật sự hiểu biết ý nghĩa quy y Tam bảo và mới có lợi ích.
    Trường hợp có những em còn nhỏ tuổi, chưa nhận thức được ý nghĩa và lợi ích của quy y Tam bảo, cha mẹ vì muốn các em gieo duyên với Phật pháp nên đã đưa đến chùa dự lễ quy y. Khi lớn lên các em không có ấn tượng về buổi lễ quy y và cũng không biết những lời nguyện, những giới điều đã thọ nên giảm đi sự lợi ích của việc quy y Tam bảo. Trường hợp này cha mẹ phải có trách nhiệm hướng dẫn con cháu của mình hiểu biết Phật pháp. Mỗi năm một lần nên đưa các em đến đàn quy thính giới, để ôn lại những giới điều đã thọ. Tốt hơn hết nên để các em đủ hiểu biết hãy khuyến khích quy y Tam bảo.
    * Lý quy y Phật: Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Hết thảy chúng sinh vốn sẵn đủ đức tướng, trí tuệ của Như Lai, nhưng vì vọng tưởng chấp trước nên chẳng thể chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng thì nhất thiết trí, tự nhiên trí, vô ngại trí đều sẽ hiện tiền”. Đức Phật là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành. Mỗi người đều có đầy đủ Phật tính, đều có khả năng thành Phật. Như mặt trăng luôn tỏa sáng, vì mây che khuất nên tối tăm, chỉ cần gió thổi tan mây mù thì ánh sáng hiện ra. Như viên ngọc bị bụi đất bám vào, chúng ta chịu khó lau chùi, mài dũa thì viên ngọc sẽ hiển lộ.
    Tự quy y Phật là quay trở về bản tính giác ngộ, cảnh giới tuyệt đối của tâm linh. Từ vô thỉ kiếp đến nay, chúng ta bị vô minh che lấp Phật tính, gây tạo biết bao nghiệp chướng để phải trả quả, trôi lăn trong vòng luân hồi sinh tử. Ngày nay, chúng ta quay trở lại xem xét chính mình, hằng tỉnh thức, làm chủ thân khẩu ý, ba nghiệp thanh tịnh, dứt sạch các lậu hoặc thì mình chính là Phật, không phải tìm Phật đâu xa.
    * Sự quy y Pháp: Pháp là những lời dạy của đức Phật, là chân lý. Pháp được ghi chép trong kinh, luật, luận. Hằng ngày, chúng ta đọc tụng, nghiên cứu học hỏi; trong lúc đọc tụng kinh, ý không nghĩ điều ác, khẩu không nói lời ác, thân không làm việc ác; ba nghiệp chúng ta sẽ được thanh tịnh. Tụng kinh hằng ngày giúp chúng ta thâm nhập kinh tạng, khai mở trí tuệ. Sở dĩ chúng ta hành động sai lầm dẫn đến khổ đau là do suy nghĩ, hiểu biết sai lầm. Chúng ta đọc tụng kinh điển là để có được nhận thức đúng đắn về nhân sinh vũ trụ, về nhân quả nghiệp báo. Từ chỗ nhận thức đúng, chúng ta sẽ có lời nói đúng, hành động đúng. Khi thân, khẩu, ý hành động đúng sẽ đem lại an vui hạnh phúc cho chúng ta trong hiện tại và tương lai.
    Ngày nay, ngoài việc đọc tụng kinh điển, chúng ta còn có các phương tiện nghe nhìn Phật pháp như băng cassette, băng video, hoặc đĩa CD, VCD, DVD do quý thầy giảng giải giúp chúng ta dễ hiểu, dễ thâm nhập Phật Pháp. Chúng ta phải thường xuyên trau dồi sự nghiệp trí tuệ này.
    * Lý quy y Pháp: Chuyển đổi hiểu biết sai lầm của mình thành hiểu biết chân chính. Sở dĩ chúng ta chìm đắm trong ngũ dục, tham luyến thế gian này là do vô minh, do hiểu biết sai lầm. Ngày nay, chúng ta chuyển hiểu biết sai lầm đó thành cái thấy sáng suốt, chân chính, không còn tham ái, chấp trước, cống cao, dục nhiễm, gọi là tự quy y Pháp.
    Trong tâm của chúng ta có đầy đủ các pháp từ bi, trí tuệ, bình đẳng, nhẫn nhục, tinh tấn. Chúng ta phải làm cho những pháp này nảy nở bên trong chúng ta, như phải nuôi dưỡng và mở rộng tình thương đến với chúng sinh, phải thường quán sát về nhân duyên, quả báo để thấy rõ thật tướng của vũ trụ nhân sinh. Phải có tâm bình đẳng đối với kẻ oán người thân, kẻ tốt người xấu vì ai cũng có Phật tính. Phải có sức chịu đựng để vượt qua những khó khăn thử thách. Phải tinh tấn tu hành để thành tựu Phật quả. Phải chuyển hóa hiểu biết sai lầm thành hiểu biết chân chính, sống thật sự với giáo pháp để khai mở trí tuệ, gọi là Lý quy y Pháp.
    * Sự quy y Tăng: Cung kính vâng lời những vị xuất gia tu học Phật pháp. Những Tăng Ni đã cắt ái ly gia, xa lìa ngũ dục, hiến trọn đời mình tu học, hoằng dương chánh pháp, phụng sự chúng sinh. Khi đã quy y Tăng, không chỉ riêng thầy mình cung kính, mà tất cả chư Tăng đều phải cung kính, vì Tăng là một đoàn thể hòa hợp thanh tịnh từ bốn vị trở lên. Người thầy quy y cho mình chỉ là đại diện cho chư Tăng. Cho nên, dù là Tăng thanh tịnh hay không thanh tịnh chúng ta đều phải cung kính, không khởi tâm phân biệt hoặc phỉ báng. Đức Phật đã nhập diệt, giáo pháp nằm trong ba tạng kinh điển, chỉ có Tăng là người thay Phật hoằng truyền chánh pháp, làm cho hình bóng Tam bảo thường trụ tại thế gian, chúng ta phải hết lòng tôn kính cúng dường.
    * Lý quy y Tăng: Là quay về với tự tính thanh tịnh sẵn có xưa nay của mình. Hằng ngày, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra phân biệt, chấp trước, đắm mê khiến cho tâm của chúng ta bị ô nhiễm. Tâm ô nhiễm dẫn đến thân ô nhiễm. Do thân tâm ô nhiễm chúng ta tạo nghiệp ác, trở lại làm mê mờ tự tính thanh tịnh của mình. Ngày nay, chúng ta quay về với tự tính thanh tịnh của mình, không phân biệt chấp trước, không khởi tâm tham, sân, si, dần dần tâm của chúng ta trở lại thanh tịnh. Tự quy y Tăng là quay trở về với bản tính thanh tịnh, hòa hợp của chính mình.
    5. Lợi ích của quy y Tam bảo:
    Muốn trở thành một người Phật tử, bước đầu tiên chúng ta cần phải quy y Tam bảo. Ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng được xem như ba chỗ nương tựa vững chắc nhất cho mình. Khi phát nguyện quy y trước Tam bảo, nhờ năng lực thanh tịnh của chư Phật và sự chứng minh trang nghiêm của chư tôn đức hiện tiền sẽ giúp chúng ta tinh tấn giữ trọn lời nguyện. Có những người sống không quen với những phép tắc, giáo pháp của nhà Phật, nghĩa là họ sống một cuộc đời tự do theo bản năng và dục vọng. Nhưng từ khi phát nguyện quy y, họ sẽ tự ý thức được mình đã quy y Tam bảo rồi, cho nên trong cuộc sống thường ngày, họ luôn luôn biết dè dặt, biết cẩn trọng hơn trong từng lời nói, việc làm.
    Hiện nay, chúng ta được làm người, sống trong cuộc đời này là nhờ đã gieo nhiều nhân lành ở quá khứ. Điều này trong nhà Phật thường nói tới, đó là luật nhân quả. Nghĩa là chúng ta gieo nhân nào sẽ gặt quả đó. Ví dụ mình gieo nhân xấu chắc chắn sẽ bị quả xấu, gieo nhân tốt sẽ được quả tốt. Cũng như muốn vài năm nữa có cam để ăn, thì ngay hôm nay, chúng ta phải biết trồng nhân cam. Luật nhân quả Phật dạy rất rõ ràng, không có gì mơ hồ cả. Nếu biết quy y Tam bảo đời nay, đời sau chúng ta sẽ không bị đọa vào những đường dữ. Do nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích như vậy, chúng ta nhất định phải quy y, phải nương vào Tam bảo.
    Còn một điều quan trọng nữa, là nếu biết quy y Tam bảo, biết trở về dưới ánh sáng trí tuệ và từ bi của Phật, Pháp, Tăng, hiện đời chúng ta sẽ có một cuộc sống hết sức bình yên, ngày sau chắc chắn chúng ta sẽ tiến dần lên quả vị Chánh giác.
    Tại sao biết quy y Tam bảo thì cuộc sống đời này được bình yên? Điều này cũng rất dễ hiểu. Ví như, trước kia chưa biết quy y Tam bảo, chúng ta cứ mặc sức gây tạo những điều xấu ác. Còn bây giờ biết quy y Tam bảo rồi, chúng ta sẽ không dám liều lĩnh hành động trái phép, không dám làm những việc gây phiền muộn và đau khổ cho người. Đã không gây đau khổ và phiền muộn cho người thì người cũng sẽ không gây đau khổ và phiền muộn lại cho mình. Vậy cho nên, có quy y Tam bảo, cuộc sống của chúng ta sẽ được an vui và thanh thản hơn.
    Còn nói quy y Tam bảo ngày sau chắc chắn chúng ta sẽ tiến lên quả vị Chánh giác là sao? Quả vị Chánh giác tức là quả vị Phật. Người nào muốn hướng đến quả vị Phật không thể không quy y Tam bảo. Vì có quy y Tam bảo, như đã nói ở trước, là nền tảng đầu tiên hết sức căn bản để bước dần lên những nền tảng khác. Có quy y Tam bảo, chúng ta mới thọ trì được Ngũ giới, Bát quan trai giới hay Thập thiện giới, cho đến những giới cao hơn v.v… Thọ giới và giữ giới càng cao, chúng ta sẽ đi gần đến quả vị tối thượng, tức là Phật quả. Cho nên, muốn tiến lên quả vị Phật, chúng ta cần phải có giới nhiều; muốn có giới nhiều, đầu tiên chúng ta phải quy y Tam bảo.
    Trong kinh Phật có kể một câu chuyện rất hay: “Hồi đó, trong một khu rừng nọ, có một ông tiều phu, ngày nào cũng vào rừng đốn củi, mang về làng để đổi gạo nuôi thân. Một hôm, ông cũng tiếp tục với công việc cũ, nhưng hôm đó xui xẻo cho ông, ông đang đốn củi bỗng nghe tiếng hổ gầm, ông hoảng hốt nhìn dáo dác, chợt thấy từ xa có một con hổ đang nhìn ông với bộ mặt thèm thuồng, giận dữ. Không nghi ngờ gì nữa, ông vội leo lên một cây cao để trốn. Con hổ cũng không bỏ cuộc, nó đứng dưới gốc cây, gặm qua gặm lại mãi. Ông tiều phu trong giờ phút đó hoảng kinh tột độ, chẳng biết phải làm gì để thoát thân, bỗng dưng ông la lớn lên: “Nam mô Phật!”, tức thì, con hổ nghe thấy, tự nhiên hoảng sợ, chạy thẳng một mạch vào rừng. Sau này, nhờ câu niệm Nam mô Phật lần đó mà ông đủ duyên được đức Phật cho xuất gia tu hành và cuối cùng ông cũng được chứng quả A–la–hán”.
    Chúng ta thấy, ông tiều phu chỉ cần một lần niệm “Nam mô Phật”, sau này nhờ nhân đó gặp Phật tu hành được chứng Thánh quả, huống gì chúng ta bây giờ đã biết Tam bảo, biết quy y! Thế nên, quy y Tam bảo nghĩa là chúng ta đang gieo nhân lành để sau này gặt được quả lành. Hay nói khác hơn, biết quy y Tam bảo là chúng ta đang gieo nhân để sau này thành Phật.
    Vì những lợi ích thiết thực và hết sức căn bản ấy của Tam bảo, cho nên chúng ta cần phải quy y.
    Có quy y Tam bảo rồi, bước tiếp theo, chúng ta mới có thể thọ trì Ngũ giới.
    II. Ngũ giới Sau khi chúng ta quy y Tam bảo rồi, cần phải thực hành những lời Phật dạy, những giới điều để ngăn ngừa việc ác, thúc liễm thân tâm, trau dồi đạo đức, nhân cách của người Phật tử. Khi đã quy y Tam bảo, chúng ta chính thức là đệ tử của Phật. Đệ tử Phật phải học theo hạnh Phật, con phải giống cha. Phật là người đạo đức mẫu mực, chúng ta cũng phải có đạo đức. Đạo đức có từ oai nghi giới luật. Do vậy, người Phật tử phải giữ gìn năm giới cấm căn bản là: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu. Năm giới cấm này là nền tảng xây dựng tòa nhà hạnh phúc cho bản thân, gia đình và xã hội.
    1. Không sát sinh: Là không giết chết mạng sống chúng sinh từ loài người đến loài vật. Chẳng những không giết mà còn không được khởi ý nghĩ làm tổn hại sinh mạng. Nếu tự mình giết, hoặc bảo người giết, hoặc thấy người giết mình vui theo đều phạm vào tội sát sinh cả. Vì mạng sống quý báu hơn bất cứ thứ gì tại thế gian. Chúng ta biết đau, biết sợ khi có người đánh giết mình, mình biết chống trả, bảo vệ. Thú vật cũng tham sống, sợ chết. Chúng ta không ỷ mạnh hiếp yếu, không vì khoái khẩu mà giết ăn thịt. Người có tâm sát hại sinh mạng là thiếu lòng từ bi, không tôn trọng Phật tính. Vì tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Người có lòng từ không thể cầm dao giết hại mạng sống, không thể đâm, chặt, cắt, mổ chúng sinh, không nỡ lòng nào nhìn thấy những súc vật vì mình bị chết đau đớn, rên la quằn quại. Giết chết mạng sống là tội ác, là gây nhân quả, oán thù đời này đời khác. Hiện đời, giết người sẽ bị quả báo tù tội, tử hình. Giết những động vật khác chắc chắn sẽ bị quả báo đền mạng trong tương lai. Người giết thú vật, thú vật chuyển kiếp làm người giết lại, khiến cho thế giới này không bao giờ chấm dứt chiến tranh.
    Người không sát sinh là không gây nhân quả báo ứng đền mạng, được trường thọ, ít bệnh, lòng từ tăng trưởng, thương yêu chúng sinh như bản thân mình. Đó là giới thứ nhất người Phật tử cần phải giữ.
    2. Không trộm cắp: Là không lấy những vật thuộc quyền sở hữu của người, từ cây kim cho đến vàng bạc của cải và những đồ vật quý báu. Nếu người ta không cho mà mình lấy, với bất kì hình thức nào cũng đều gọi là trộm cắp, như cân non, đong thiếu, trốn thuế, tích trữ đầu cơ, hối lộ móc ngoặc, ỷ mạnh cậy thế để thâu đoạt của người… đều là trộm cắp. Đồ vật, của cải mình tạo ra bằng mồ hôi nước mắt mình biết bảo vệ, giữ gìn để sử dụng. Đồ vật của người, người ta cũng cần có để sử dụng, không vì lợi dưỡng của bản thân mà chiếm đoạt của kẻ khác. Một khi chúng ta làm việc bất chính, gây đau khổ cho kẻ khác thì sẽ bị quả báo đau khổ. Người có tâm gian tham trộm cắp hiện đời sẽ bị người khinh chê, bị luật pháp giam cầm tù tội, đời sau làm trâu ngựa để đền trả. Nếu được tái sinh làm người thì nghèo cùng khốn khổ, cơm không đủ no, áo không đủ ấm.
    Người giữ giới không trộm cắp được mọi người tin dùng, có thể giao trách nhiệm lớn, bản thân không lo sợ tù tội. Đó là giới thứ hai người Phật tử cần phải giữ.
    3. Không tà dâm: Tà dâm là quan hệ tình dục bất chính. Chánh dâm là quan hệ tình dục hợp tình, hợp pháp. Như nam nữ tình nguyện sống với nhau được gia đình và xã hội công nhận là vợ chồng gọi là chánh dâm. Những hành động dụ dỗ, lừa gạt, cưỡng ép, ngoại tình, bỏ tiền mua… để thỏa mãn tình dục đều gọi là tà dâm. Đến như những người đồng giới tính quan hệ tình dục với nhau cũng là tà dâm. Tội lỗi nhất trong các thứ tà dâm là phá phạm hạnh người giữ tịnh giới, như dụ dỗ quan hệ tình dục với người xuất gia, những người đang thọ trì Bát quan trai giới. Đê tiện nhất trong các thứ tà dâm là việc quan hệ tình dục giữa cha và con. Điều này trên thực tế đã xảy ra. Hành động này tưởng như thú vật mới có, không ngờ một số người cũng hành động như thú vật. Trong gia đình, người vợ hay chồng có tâm tà dâm, sẽ gây mất niềm tin với nhau. Vợ chồng chung sống với nhau mà cứ tưởng nguyệt mơ hoa thì chắc chắn tình cảm vợ chồng sẽ rạn nứt, hạnh phúc gia đình sẽ đổ vỡ, dẫn đến ly dị, gây đau khổ cho con cái.
    Để bảo vệ nhân phẩm, bảo vệ sức khỏe, bảo vệ hạnh phúc gia đình, đức Phật dạy người Phật tử không được tà dâm. Đó là giới thứ ba người Phật tử cần phải giữ.
    4. Không nói dối: Tâm nghĩ miệng nói trái nhau gọi là nói dối. Nói dối có bốn cách:
    a. Nói không đúng sự thật: Là chuyện không nói có, chuyện có nói không; thấy nói không thấy, không thấy nói thấy; nghe nói không nghe, không nghe nói nghe; làm nói không làm, không làm nói làm v.v… nói sai sự thật đều là nói dối. Có những trường hợp có thể nói dối vì lời nói dối xuất phát từ lòng từ bi, đem lại lợi ích an vui cho người, không làm tổn hại cho ai. Ngoài ra không nên nói dối.
    b. Nói thêu dệt: Là lời nói hoa mỹ trau chuốt làm người nghe đắm nhiễm. Nói những lời ngọt ngào để lợi dụng tình cảm, những lời kích dục, những lời dụ dỗ người sa vào con đường dâm ô, xì ke, trộm cắp v.v…
    c. Nói hai chiều: Đến người này nói xấu người kia, đến người kia nói xấu người này; gây chia rẽ, đấu tranh, mất đoàn kết. Những lời nói làm cho bạn bè xa lìa, vợ chồng ly dị, anh em bất hòa, cho đến đất nước này thù oán đất nước kia, chiến tranh lẫn nhau.
    d. Nói lời thô ác: Là lời nói thô lỗ, mắng nhiếc, hủy nhục, chửi tục v.v… làm cho người nghe phải đau khổ, buồn rầu, sợ hãi.
    Người không nói dối sẽ được mọi người tin yêu, công việc làm ăn thuận lợi dễ dàng, không gây thù oán với người. Đó là giới thứ tư người Phật tử cần phải giữ.
    5. Không uống rượu: Rượu là thứ làm say mê người, làm mất giống trí tuệ, làm tăng sự nóng giận, làm hư hoại cơ thể. Người uống rượu say rất dễ gây tạo các điều tội lỗi như: sát sinh, trộm cắp, tà dâm… Đến những thứ làm say mê như xì ke, ma túy… có hại thân tâm cũng không được dùng. Ngay cả đến những loại thuốc kích dục cũng không được sử dụng. Những chất gây say này làm cho người ta mất sáng suốt dẫn đến hành động tội lỗi. Biết bao tai họa xảy ra cho bản thân, cho gia đình, xã hội đều từ những chất gây say này. Phật tuy cấm uống rượu nhưng cũng có trường hợp cho phép như khi bệnh cần có rượu làm thuốc thì được dùng.
    Để giữ gìn hạt giống trí tuệ, bảo vệ sức khỏe và hạnh phúc của bản thân, đức Phật dạy người Phật tử không được uống rượu. Đó là giới thứ năm người Phật tử cần phải giữ.
    Tóm lại, năm giới cấm này là nền tảng của trí tuệ, đạo đức, tình thương và giải thoát. Người có nhận thức rõ ràng nhân quả tội báo mới giữ giới luật được, nên gọi là người có trí tuệ. Người không phạm vào các hành động trộm cắp, tà dâm, uống rượu là người có đạo đức. Người không giết hại thú vật để ăn thịt là người có tình thương. Người giữ giới luật nghiêm túc sẽ không gây tạo ác nghiệp, không bị quả báo luân hồi trong ba ác đạo, là nhân của giải thoát, vì có giới sẽ có định, có định sẽ có huệ. Giới định huệ là nền tảng của giải thoát. Như vậy, người giữ giới luật đầy đủ là người có trí tuệ, có đạo đức, có tình thương và giải thoát. Một người giữ trọn vẹn năm giới này là một người an vui hạnh phúc. Một nhà giữ trọn vẹn năm giới này là một nhà được hạnh phúc. Một xã hội giữ trọn vẹn năm giới này là một xã hội hạnh phúc. Một đất nước giữ trọn vẹn năm giới này là một đất nước hạnh phúc. Cả thế giới giữ được năm giới này thì thế giới biến thành Tịnh độ.”

  4. Yoga Vietnam Forum » Blog Archive » Bảy trường phái Yoga Says:

    […] Says: April 10, 2007 at 1:27 pm Năm giới của người thường bên đạo Bụt 1. Không giết hại 2. Không trộm […]


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: