Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây – 2

(Bài diễn thuyết của cụ Phan Chu Trinh diễn tại nhà hội Việt Nam ở Sài gòn, đêm 19.11.1925)

Thưa các anh em đồng bào!

Tôi lâu nay lưu lạc, bây giờ trở về mới liếc mắt trông qua vài hiện trạng của nước nhà ta, tôi rất lấy làm buồn lắm. Than ôi! Cái đạo đức cũ đã mất từ bao giờ không khác gì trái cây khô, mà đạo đức mới cũng chưa hình thành gì cả. Thử xem các ông cựu học thì bo bo nói rằng phải buộc bọn thiếu niên tân tiến theo đạo đức cũ. Nhưng chán thay, các ông chỉ nói thế thôi, xét ra thì những lễ, nghĩa, liêm, sỉ các ông bỏ mất không biết gì đến rồi, mà đạo đức cũ ông cha ngày xưa để lại cũng theo dòng nước chảy xuôi, Đó là nói các ông không biết giữ gìn đó thôi, chớ như đem ngay cái luân lý cũ kỹ mấy nghìn năm trước mà so sánh với luân lý của thế giới ngày nay thì cũng trái ngược lắm rồi. Còn các bạn thiếu niên thấy ông lù khù như thế lại càng làm giàu thêm cái tính kiêu căng, học được chút ít đã vội tưởng mình hơn các cụ già rồi, không giữ gìn tính nết, thành ra cách ăn ở Tây không ra Tây, mà Nam cũng không ra Nam. Điều này không chỉ tôi nói ra đây mà thôi, chính người Pháp ở thuộc địa lâu ngày viết sách chê đến đã nhiều.

Anh em ta đây tất cũng thấy người ta thường nhóm năm nhóm bảy với nhau rằng cái tính của người Tây kiêu ngạo hay khinh người, nhưng ta hãy tự hỏi ta điều đó, ta xem cách ta ăn ở có đáng cho người ta kính trọng không? Sự đó không thiếu gì là gương cũ ta có thể kể ra được. Đã mấy mươi năm nay, nhờ cái phong trào của thế giới xô đẩy mà trong nước ta cũng có đảng Thủ cựu, đảng Duy tân, đảng Hòa bình, đảng Kịch liệt làm ồn ào cả lên mà rút cục lại chẳng thành hiệu quả gì. Đến khi đổ vỡ ra thì thấy toàn những đầu trâu mặt ngựa cả, chỉ bêu xấu cho cái danh giá của dân tộc mình, khiến cho người ta trông vào thấy thế càng khinh dễ thêm, càng vày đạp thêm.

Ông Khổng nói rằng: “Tài giả bồi chi, khuynh giả phúc chi” nghĩa là mình tốt thì trời đất giúp thêm cho, mà mình đã nghiêng đổ thì trời đất lại xô đạp thêm. Ông Mạnh cũng nói rằng: “Nhân tất tự vũ nhi hậu nhân vũ” nghĩ là mình có tự khinh mình thì người ta mới khinh mình. Vậy không trách mình thì còn trách ai! Bữa nay tôi chọn cái vấn đề này mà nói chuyện cùng anh em đồng bào, chính là vì cái chính ý đó.

Xưa nay ta học chỉ đọc ngoài miệng thôi, ít khi chịu tách bạch cho phân minh từng nghĩa nên nhiều khi hiểu lầm. Như chữ đạo đức và luân lý ta thường cho là một nghĩa chớ không biết rằng đạo đức là đạo đức, luân lý là luân lý. Đạo đức gồm cả luân lý mà luân lý chỉ là một phần trong đạo đức mà thôi. Đã là người thì cần có nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, cần, kiệm. Nhân là có lòng thương người, nghĩa là làm việc phải, lễ là ăn ở cho có lễ độ, trí để làm việc cho đúng, tín là nói với ai cũng giữ lời cho người ta tin mình mới làm được việc, cần là làm việc siêng năng, kiệm là ăn ở dành dụm trong lúc no để phòng lúc đói, lúc có để phòng lúc không v.v.. Người có đạo đức là người ở trong đạo làm người vậy. Đạo đức như thế thi không có mới có cũ, có đông có tây nào nữa, nghĩa là nhất thiết đời nào, người nào cũng giữ được cái đạo đức ấy mới là trọn vẹn. Dầu nhà bác học xướng ra học thuyết nào khác nữa, dầu chính thể khác nhau hoặc dân chủ, hoặc quân chủ, hoặc cộng sản nữa, cũng không tài nào vượt qua khỏi chân lý của đạo đức nghĩa là đạo đức thì không bao giờ thay đổi được.

Luân lý thì không thế. Luân lý có thể thay đổi được luôn. Luân lý thì mỗi người mỗi khác. Thí dụ như nước ta về thời nhà Đinh lập được năm bà Hoàng Hậu mà đến các đời sau như Lê, Lý, Trần, Tây Sơn, Nguyễn, thì chỉ lập có một hoàng hậu mà thôi; như đời Trần thì người trong họ được lấy nhau mà tục ấy đời sau lại cấm. Đời nhà Trần khi nào trong nước có giặc thì vua triệu những bậc phụ lão trong nước vào điện để bàn bạc, mà đến đời sau thì chỉ một lũ vua tôi làm chuyên chế với nhau mà thôi.

Lại thí dụ như xứ này hễ cha mẹ chết thì đem ăn thịt hoặc đốt đi, mới gọi là hiếu, mà xứ kia thì phải làm đám táng có kèn trống linh đình mới phải đạo làm con. Xem những cớ đó thì đủ biết rằng luân lý có phải là thứ thiên niên bất dịch đâu mà kỳ thật có thể tùy thời mà thay đổi vậy. Người ta có thể thay đổi luân lý mà không thể thay đổi được đạo đức. Ấy luân lý và đạo đức khác nhau là thế. Nói cho rõ hơn là luân lý như cái áo tùy người lớn nhỏ mà thay đổi, nhưng cũng không mất hình cái áo đi, chí như đạo đức là như cơm, như nước, như đồ bổ dưỡng, cần cho mọi người dẫu muốn thay đổi cũng không thay đổi được, nếu thay đổi được là đạo đức giả.

Tôi giải rõ hai chữ luân lý và đạo đức khác nhau như thế là cốt ý sẽ bàn về sự thay đổi luân lý của nước ta và đề phòng khi anh em đông vào nghe đến “thay đổi luân lý” khỏi lấy làm giật mình. Trước khi tôi chưa giải rõ nghĩa hai chữ luân lý đạo đức, nếu tôi nói: “Ngày nay ta phải bỏ quân chủ lập dân chủ mới họp thời” thì chắc cũng có mấy ông hiểu lầm hai chữ luân lý là đạo đức đều ứng lên mà la rằng: “Bỏ quân chủ thì nền đạo đức cũ của nhà Nam ta cũng đổ nát theo còn gì!” Nhưng bây giờ thì anh em cũng không đến nỗi hiểu lầm như thế nữa.

(còn nữa)

Các đoạn: [ 1 ] [ 2 ] [ 3 ] [ 4 ] [ 5 ] [ 6 ] [ 7 ] [ 8 ] [ 9 ] [ 10 ] [ 11 ] [ 12 ]

12 Responses to “Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây – 2”

  1. dxpham Says:

    Dự thấy đạo đức và luân lý cũng giống như phép vua và lệ làng, cái nào cũng đúng nhưng tùy nơi tùy chỗ mà mình áp dụng. Dự không hiểu tác giả lý muốn nói “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, cần, kiệm” là đạo đức hay luân lý. Chữ *kiệm* chắc hẳn là không đúng trong xã hội Mỹ rồi; đa số ai cũng mượn nợ ngân hàng chưa có bao nhiêu xài hết bấy nhiêu. Còn chữ *nhân, lễ, nghĩa, trí, tín* thì xã hội nào chẳng nên có. (A contradiction ?)

  2. LD Says:

    Nhân Nghĩa Lý Trí Tín là một nửa của Ngũ Cang Tam Thường của Nho giáo. Cái chuyện Tam thường gồm Quân-thần, Phụ-tử, Phu-phụ thì đã rõ ràng. Tôi cho rằng phần đó thuộc vào Luân Lý vì nó được xác lập bởi xã hội để nó khỏi lộn tùng phèo. Nhưng nếu vua thối tha, cha hư hỏng hay chồng đàng điếm mà cứ khư khư theo cái luân lý đó thì chỉ có toi (thành tầm thường thay vì tam thường). Luân lý có thể thay đổi tuỳ theo cái chuẩn của XH bạn đang sống. Thông thường để tỏ ra cái XH của mình là tối ưu, tránh gây sốc và để mua lòng dân các vị lãnh đạo sẽ chỉ thay đổi cái luân lý đó chỉ chút chút. Miễn là có lợi và củng cố cho cái ghế của mình. Do đó nếu ta phạm “luân lý” của họ thì sẽ sớm vào “lao lý” bóc lịch.

    Còn ngũ cang thì mình cho rằng nó thuộc về đạo đức (không thể thay đổi). Đạo làm người lấy đó làm gốc và nó chẳng phụ thuộc vào cơ chế XH nào cả.

    Còn Cần Kiệm Liêm Chính thì được gọi là tứ đức (?). Hồi bé học mấy cái này hồi tiểu học lâu quá rồi nên giờ chỉ nhớ lõm bõm.😦

    Sau một khoảng thời gian dài mấy chục năm, những thứ này không được nhắc nữa trong nhà trường (vì chúng lỗi thời lạc hậu ?). Thay vào đó là những cái sáo rỗng hô hào… Trồng cây nào thì ăn trái đó! Đến bây giờ ta thán tham nhũng, đạo đức suy đồi, con người đối xử với nhau tệ bạc v.v. thì có chi mà lạ. Bao nhiêu đề án cải tạo giáo dục chỉ nhắc đến chuyện tiền và vật chất cơ sở … Có cái nào nhắc đến mấy cái “xưa như trái đất” đó đâu? Hay là cái chuyện “trăm năm trồng người” không cần thiết nữa? Hoặc giả cứ cầm được cái bằng Trung / Đại (tiện) học gì đó là thành người (ngợm) rồi? Học gì ở trỏng thì hông biết!

  3. dxpham Says:

    Cám ơn anh Dũng nhiều ạ. Là Phật tử từ nhỏ (theo gia đình) nên biết Tam quy Ngũ giới nhiều hơn mấy thứ này.

  4. htluan Says:

    Chà, anh LD không được học “5 điều bác dạy” rồi, mà lại bị “nhồi sọ” mấy thứ cổ hủ kia. Tiếc quá!

  5. LD Says:

    Bởi vậy nên đến bây giờ vẫn chưa được coi là con người XHCN được.😦

    Nói về quyền được thể hiện lòng yêu nước ở xứ ta: cần phải xin phép (!). Nhân đọc báo về các vụ “khiếu kiện” (chứ không phải “biểu tình”) của dân chúng bị mất đất vào tay một số cán bộ / quan chức thì chợt nghĩ một chuyện vui vui về cách dùng từ của báo chí ta.

    Tưởng tượng phóng viên nước ngoài hỏi vặn biên tập báo ta

    “Hình như các báo của bạn không dùng chữ biểu tình?”.

    Trả lời: “Gần đây đâu có biểu tình, chỉ có “khiếu kiện số đông” thôi. Chúng tôi đã đưa tin và phải dùng từ chính xác chứ!”

    Hỏi: “Ra thế! Vậy biểu tình có được phép không ạ ?”.

    Trả lời: “Chắc chắn là được phép rồi! Phải hiểu chữ biểu tình là gì. Đó là “biểu” lộ “tình” cảm đấy. Các ông không theo dõi tin XH à? Trai gái bây giờ được tự do hôn hít âu yếm nhau đầy đường Thanh Niên, công viên … Ngày xưa cứ phải lấp la lấp ló trong bụi rậm, bây giờ thì tha hồ mà biểu tình nơi công cộng. Những người cổ hủ không theo được với cái “cởi mở” đó mới đi phàn nàn thôi! Tự do đến the còn gì!”

    “Cám ơn đã khai sáng !”

  6. LD Says:

    Quên, còn một khúc nữa:

    Hỏi: “Ông nhận định gì về chuyện gần đây thanh niên và sinh viên có “khiếu kiện” vụ Trường sa Hoàng sa tại sứ quán TQ?”

    Trả lời: “Cái này có vẻ không đúng chỗ lắm! Đi “khiếu kiện” thì phải đến toà án TQ chứ! Sứ quán TQ thuộc về bộ ngoại giao TQ, có dính gì đến công lý TQ đâu mà đến đấy khiếu kiện? Các bạn trẻ còn non dại nên không biết gõ cửa đúng chỗ, chỉ phí thời giờ.”

    Hỏi: “Vậy trong tương lai có thể có toà án TQ ở VN để ta đến đó “khiếu kiện” phải không ạ ?”

    Trả lời: “Ý hay đấy!”

  7. htluan Says:

    Mình không rành đạo Nho lắm, nhưng vừa rồi đọc bài Cái chế độ gia đình nước ta đem gióng với luân lý của Khổng Mạnh của Phan Khôi nên bắt giò anh LD cái chơi. Nay trích lại đây:
    Ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, là nói về cái hằng đức của nhân cách.
    Ngũ luân: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (chồng vợ), huynh đệ (anh em), bằng hữu (bầu bạn). Ngũ là năm, luân là đấng bậc; ngũ luân là một cái tổng cương trong luân lý, như là cái giấy giao kèo để buộc năm đấng bậc ấy phải ở với nhau cách nào.
    Tam cang: “Quân vi thần cang, phụ vi tử cang, phu vi thê cang”. Cang nghĩa là cái giềng lưới. Theo thuyết ấy thì vua, cha, chồng như cái giềng lưới; còn tôi, con, vợ thì như những cái mắt lưới. Cái giềng cứ ràng buộc lấy những cái mắt, và những cái mắt cứ phải ở trong cái giềng.

  8. htluan Says:

    Theo cách chơi chữ (nhưng không trúng) tam thường – tầm thường trên của anh LD thì tam cang có thể thành tam càn (ba điều càn rỡ) hay tam càng (ba cái càng để kẹp chặt hay ngán trở người ta).🙂

    Nhưng mấy cái cang đó xưa rồi, nước ta ngày nay chỉ có Nhất Cang thôi. Tuy là Một nhưng lại biết biến hoá khôn lường trở thành Vạn Cang. Nhất hay Vạn đều có thể thấy được nên gọi là Hữu Cang. Nhưng theo lý thuyết vận động xã hội thì hiện nay nước ta phấn đấu tiến lên Không Cang. “Không” đây chẳng phải là “Không Có”; thật ra là “Có” nhưng mà không ai thấy, không ai nhận biết được, nên ra vẻ như “Không”. Đây là tột bực của thuyết Tam Cang.

  9. LD Says:

    Cảm ơn Luân. Đã học lõm bõm mà lại xa xứ nên không được gần “đạo” nên hư đốn quá. Riết rồi thấy tiếng Mẽo thì chẳng khá lên mà tiếng Việt thì càng tệ đi (khỏi nói cái chuyện đạo đức nó còn tồi thêm thế nào!). Cang Thường thì cứ loạn cào cào, không chi lạ. Nhân nói cái chuyện Nhất Cang đi từ Tam Cang thì đúng quá rồi. Làm toán thì càng phải cố giản đơn nên đi từ 3 đến 1 là giỏi lắm rồi. Đến không cang thì mới là đắc đạo! Mà không cang chính là Vô Can đấy sao? Đã Vô Can thì thôi dính vào làm gì? Thiên hạ cứ việc múa, ta thì “Vô Can” để rồi “Vô Tư Làm Càn”. Ấy là thấu hiểu cái lẽ (làm) Càn (mà) Khôn!

    Nhân chuyện Dr. Phan bây giờ mới biết cụ Phan Khôi thì xin chúc mừng Dr. Phan một phát. Nếu biết từ trước thì chắc sớm được đi cải tạo vì cái cụ Phan này nguy hiểm lắm lắm! Dính với Nhân Văn Giai Phẩm, ăn nói viết lách lung tung về dân chủ dân quyền, xỏ lá cái “Nhất Cang” đó…

    Ờ mà biết đâu được? Dr. Phan có họ hàng với cụ đó (sẽ chứng minh dưới đây) thì có ngày sắp thơm lây. Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán và ngay cả Phạm Quỳnh còn đang được tung hê lên rồi đấy sao?

    Theo ngâm cứu mới nhất (chưa công bố, chỉ vì quen nên bật mí thôi) của tôi (Sử Gia (Giả Sư) nghiệp dư (thừa)) thi dòng họ Phan của Dr. PVT ở Bến Tre rất rộng và đã lan tràn trên toàn thế giới! Dân Việt ta là “tổ tiên của nhân loại” thì chuyện này có gì lạ?

    Dr. Phan có họ hàng với cụ Phan! Thật đấy!

    Từ Bến Tre, dòng họ Phan hồi xa lắc xa lơ đã lang bạt đến Quảng Nam để sau này đẻ ra cụ Phan. Đi tiếp ra Bắc rồi sang Tàu để làm ruộng tạo nên Phàn Thành (nơi Trương Phi hay Quan công gì đó toi mạng). Bởi dân TQ đọc trại Phan ra Phàn! Tướng Phàn Khoái cũng là họ hàng nhà Dr. Phan! Họ nhà Phan lại qua tiếp Ấn Độ bịa ra cái tiếng cho dân này gọi là tiếng Phạn (Phan hay Phạn thì có gì khác nhiều ?). Hôm qua tui có interview một tay graduate student từ Ấn Độ qua, hắn tên là Phan-Indra! Thấy chưa, chắc hắn là giòng dõi họ Phan, ở Ấn rồi thông giao với họ Gandhi của bà Indra nên mới lòi ra cái tên như rứa (?). Họ Phan còn qua đến tận Ăng Lê quậy tưng luôn nên từ đó mớ đẻ ra cái chữ fan (soccer fan, crazy fan …). Bắt nguồn từ họ Phan đấy!

    Sướng hén! Thấy người sang thì mình cứ bắt quàng làm họ, có sao đâu? Với cụ Phan này thì phải chờ bởi cụ ấy vẫn còn dính đến một chi nữa của họ Phan là Phản (động)!

    Đang nghiên cứu thêm!🙂 Sẽ công bố trong Tạp (nhạp) Chí (phèo) Sử(a sai).

  10. htluan Says:

    Nhân đây tôi nói rõ thêm về thuyết Vạn Cang. Thuyết này gốc là từ Nhất Cang mà ra. Nguyên do là Nhất Cang tuy cao siêu, thâm sâu nhưng lại quá khái quát nên khó dùng trong đời được. Những người ban đầu dùng được Nhất Cang chỉ là những bậc thánh nhân, hay vĩ nhân mà thôi. Tuy nhiên để dễ dàng thiết lập Nhất Cang trong xã hội, các vị ấy lập thuyết Vạn Cang. Một điều lợi nữa là khi đã có Vạn Cang rồi thì con cháu các vị ấy dù ngu dốt đến mấy cũng vẫn giữ vững cái Nhất Cang mà mình thừa hưởng. Nói như vậy cho biết Vạn Cang thật không tầm thường, và nó lợi hại vô cùng.

    Vậy Vạn Cang là gì? Nếu Nhất Cang là cái lưới lớn bao trùm hết mọi người, thì Vạn Cang là muôn nghìn cái lưới nhỏ trói chặt một nhóm người, nhưng lại chia tầng chia lớp, có mặt ở mọi ngóc ngách, hang cùng ngõ hẻm. Vạn Cang trở thành một hệ thống lưới dày đặc phục vụ Nhất Cang. Do nhỏ nhưng nhiều, các cang này họp nhau có khả năng kiểm soát đến từng cá nhân trong xã hội. Mỗi cang này được nắm giữ bởi các cang ông/cang bà. Cho nên dân gian có câu rằng: Ra ngõ gặp “can(g) ông” hay Một người dân đội một chục thằng “can(g) ông” trên đầu là vì vậy. Các cang ông/cang bà này có mặt khắp nơi, từ khu dân cư đến công sở, trường học, bệnh viện,… từ đồng quê đến thành thị, từ miền xuôi đến miền ngược, … Khi Vạn Cang đã hình thành, thì Nhất Cang vững chắc vô cùng, ngược lại nhờ Nhất Cang mà những kẻ trong Vạn Cang có quyền có thế, mặc sức bóp họng người dân, chẳng ai có thể thoát khỏi.

    Tóm lại Nhất Cang=Vạn Cang hay Một Lưới=Muôn Lưới. Thật ra ý này cũng không mới, nó có trong khoa học, triết học và tôn giáo nhưng tôi không bàn ở đây.

    Lần sau tôi sẽ bàn về con đường đi từ Hữu Cang đến Không Cang.

  11. htluan Says:

    Trước hết tôi nói chung lại một chút. Các thuyết Nhất Cang, Vạn Cang, Hữu Cang hay Không Cang gọi chung là Duy Cang (chú trọng về Lưới). Cốt lõi của thuyết này là phải trói buộc người khác, khiến họ phải theo ý duy của một vị thánh nhân, hay một nhóm nhỏ người đầy quyền uy. Sự trói đây phải hiểu rộng ra, có thể trói về tư tưởng, cũng có thể là cho đeo gông thật …. Trói chặt hay lơi, hay chỉ quây rào giam lại thì còn tuỳ.

    Giống như trên đã nói, Không Cang là đỉnh cao của Duy Cang. Dùng câu chữ xưa mà diễn cho dễ nhớ thì là “Trói mà như không trói mới là thực trói”, hay như “Giam (cầm) mà như không giam thì mới là cái giam chắc chắn nhất”. Tại vì sao? Vì người không thấy mình bị trói thì đâu vùng vẫy bứt dây, người không thấy mình bị giam cầm thì đâu có đập phá tường vách nhà tù mà tìm tự do. Cho nên Không Cang nhằm luyện cho người tự tuân phục mà không cần dùng sức mạnh. Người dân chỉ biết gật gật gù gù, trên chỉ sao thì một mực nghe theo không cần biết là phải hay trái, cũng không nghĩ thêm điều gì hay ho ơn ích nữa. Lắm lúc lại vui mừng tung hô, ngợi ca thánh nhân đang nắm giữ phần hồn của họ. Đến lúc này thì xã hội thái bình, quả là Thiên đàng Nhất Cang.

    Nếu nhìn lại thì Duy Cang đi từ Nhất Cang, vốn là một thuyết tư tưởng, sau áp dụng vào xã hội, lập thể chế tạo nên xã hội Vạn Cang. Đến Không Cang thì tư tưởng và thể chế xã hội hợp thành một, thật không gì đẹp hơn nữa. Cho nên các nhà Duy Cang học cho đây là đỉnh cao của triết thuyết xã hội loài người.

    Không Cang cao siêu như vậy cho nên thật khó mà đạt được, chính xác hơn là không thể đạt được cho nên gọi là không tưởng. Nếu là không tưởng thì làm sao mà với tới, làm sao lại theo đuổi? Vậy thì Duy Cang đi vào đường cùng hay sao? Chỗ này mới là chỗ thiên tài của các nhà Duy Cang học! Nói đơn giản ra là: Không với tới mà cứ với, thì với được mãi. Các vị cứ đặt Không Cang trước mặt mọi người với bao hứa hẹn đẹp đẽ, rồi bảo họ cứ đến mà lấy. Người ta nghe thế thì ham nên cũng đổ đi mà lấy, cố chạm cho được nó. Tất nhiên các nhà Không Cang học không nói thật là không thể lấy được đâu, mà cứ lên dây cót bảo mọi người cố mà với tiếp. Giai đoạn với mà không tới này có thể kéo dài đến … vô cùng, và được gọi là “giai đoạn quá độ” từ Hữu Cang lên Không Cang.

    Lần sau:Đặc tính của giai đoạn quá độ.

  12. htluan Says:

    Khi Vạn Cang được thiết lập thì kẻ cầm quyền chủ yếu dùng sức mạnh để đè nén nguời dân, nên gọi là Lưới Cứng. Từ Lưới Cứng đến Lưới Không, giai đoạn quá độ đó phải dùng phuơng pháp Lưới Mềm.

    Nguyên do là:
    – Dùng lưới cứng, siết chặt dân quá thì dân kiệt quệ, mà dân nghèo khó thì có hút máu dân cũng không thoả mãn lòng tham của kẻ giữ lưới. Nên chúng muốn dân béo lên một chút để chúng hưởng lợi.
    – Những người ngoài lưới, trong lưới ngày càng thấy sự tàn ác của Lưới Cứng nên muốn phá bỏ, sự chống đối ngày càng mạnh mẽ. Để xoa dịu, tránh để cứng quá thành gãy, những kẻ nắm lưới phải thay đổi, nới lỏng lưới nhằm giảm hẳn sự chống đối.

    Cụ thể hơn là trước kia lưới sắt lưới thép chẳng hạn thì nay thay bằng chất liệu thật bền chặt nhưng lại rất mềm mại, thậm chí trơn mát. Người tuy vẫn bị trói nhưng cảm thấy thoải mái dễ chịu hơn hẳn hồi còn lưới cứng, nên thoả mãn, bỏ hẳn ý muốn cắt đứt lưới để được tự do, nhiều khi còn rối rít cám ơn vì đang được trói bằng thứ lưới mềm đó. Đối với kẻ có đầu óc hơn, vẫn dãy giụa đòi thoát thân thì lưới mềm lại co giãn tạm thời làm vừa lòng họ. Nếu họ muốn bay nhảy thì lưới mở rộng tạo một ít khoảng không (trong lưới) cho họ bay nhảy. Đến khi họ bay nhảy mệt rồi thì lưới lại co siết họ lại. Cách này họ luôn có cảm giác tự do và an lòng ở lại trong lưới. Tuy nhiên vẫn còn những kẻ khác thấy rõ bản chất giam cầm của Lưới Mềm, kêu gọi mọi người hãy thoát khỏi lưới thật sự. Với những người anh hùng này thì lưới mềm một mặt ru ngủ đám đông người, thuyết phục họ an phận trong lưới mềm, một mặt cô lập những người anh hùng, có cơ hội thì quấn siết họ thật chặt không cho cục cựa không cho nói năng, còn quá nữa thì siết cho họ chết luôn.

    Bằng cách này, dẫu chưa bằng Lưới Không nhưng Lưới Mềm kiểm soát và ổn định được xã hội mà không phải lúc nào cũng dùng sức mạnh. Người dân hoặc có ảo tưởng tự do, hoặc chấp nhận bị trói buộc “một cách dễ chịu” nên cũng bớt đi sự chống đối.

    Một cách nữa để hình dung hiện tượng này là hệ thống lồng trong lồng ngoài. Khi người dân muốn phá bỏ cái lồng chật chội thì kẻ nắm quyền thay bằng cái lồng khác lớn hơn một chút, rồi hơn một chút nữa để người dân hài lòng, tuy vẫn không thoát khỏi cái lồng lớn nhất. Khi dân quên đi, thi cái lồng nhỏ lại được chụp vào … Đối với những kẻ anh hùng thì cứ từng người một mà chụp một lồng, có khi là lồng bọc nhung gấm bề ngoài để không ai hay biết.

    Lần sau: Con người trong xã hội Nhất Cang.


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: