NGUYỄN HIẾN LÊ qua Quách Tấn

Người xưa nói về nhau và đối xử sao chừng mức quá. Đến thế hệ của tui là đã thấy bậy rồi!

NGUYỄN HIẾN LÊ qua Quách Tấn


Năm 1955, trở lại Nha Trang, việc đầu tiên của tôi là lo xây dựng tủ sách gia đình đã bị hoàn toàn phá hủy trong gần 10 năm tản cư về Bình Định.

Bộ sách làm cho tôi thích thú nhất trong sách tôi mua được khoảng 5 năm đầu, là bộ Đại cương Văn học Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê.

Đối với tôi, sách đã mới mà người soạn sách cũng mới.

Song phần nhiều những ý kiến giải bày trong sách, nhất là những kiến giải về thơ Đường luật, rất thích hợp với tôi. Như:

“Tiến từ giản dị đến phiền phức là một xu thế tự nhiên của nghệ thuật: Nghệ sĩ bao giờ cũng tìm cái khó để theo, có làm được việc khó, họ mới thấy hứng thú cho nên luôn luôn họ đặt ra quy tắc và hễ nói đến văn chương phải nói đến quy tắc.

Không một thể văn nào hoàn toàn tự do. Cả đến thơ Tự Do cũng phải tuân những luật về thanh âm. về số tiếng trong một câu. Chẳng hạn không thể lấy lẽ, rằng ta đưa tự do theo hứng, mà viết một câu thơ 15, 20 tiếng được. Độc giả chắc còn nhớ một thi nhân của ta, hình như là Nguyễn Vỹ, hồi Tiền chiến đã thí nghiệm một thể thơ 12 cước vận và thất bại. Ở Pháp cũng đã có người thí nghiệm thơ trên 12 cước vận mà không thành. Đến văn xuôi cũng phải theo một số quy tắc nhất định: Không phải ai muốn chấm câu ra sao thì chấm, muốn dùng chữ ra sao thì dùng.

Vậy đặt ra luật lệ mới, tự nó không phải là một việc vô ý thức. Vô ý thức là những kẻ hiểu lầm công dụng của những luật lệ ấy. Quy tắc để điều khiển cái hứng, giúp cho lối phô diễn được hoàn toàn, đẹp đẽ hơn, du dương hơn, chớ không phải để bóp chẹt cái hứng. Phải biết vứt bỏ luật lệ để giữ cái hứng, chớ không nên hy sinh cái hứng cho luật lệ. Thơ là để lả nỗi lòng, tả bằng hình thức nào cũng được; Cổ phong, thế luật… hễ tả mà cảm động được người là mục đích đã đạt. Thơ không phải là những tiếng ghép cho thành vần, cho có đôi, cho đủ bằng trắc.

Thi sĩ đời Đường sở dĩ bất hủ là nhờ họ hiểu lẽ đó: Biết có luật mà không chịu nô lệ nó. Họ biết phá luật để theo hứng. Những bài được truyền tụng nhất của họ phần nhiều như vậy. Chẳng hạn những bài Hoàng Hạc Lâu cua Thôi Hiệu, Anh Vũ Châu của Lý Bạch… đều thoát khỏi sự câu thúc của niêm luật.

Những thi sĩ ít tài, không hiểu lẽ đó, cứ bo bo giữ đúng phép của Thẩm Ứớc làm cho thơ mất sanh khí và luật thi hành một lối thơ “tiểu thừa” thấp kém nhất, một lối ghép chữ để du hý, tiêu sầu khiển muộn, như đá banh hay đánh cờ.

Do đó có sự phản động ngay ở đời Thịnh Đường. Hàn Sơn, một vị hòa thượng thi sĩ, giữ được cái phong khí của Đào Tiềm, chê đồ đệ của Thẩm Ước là bọn đui vịnh mặt trời.

Sức phản động ấy, tới cuối đời Thanh mới mãnh liệt…

Theo thiển kiến, luật thi là một tiến bộ tự nhiên trong lịch trình thơ Trung Quốc. Về hình thức, nó thật là hoàn hảo, nhưng nó chỉ hợp với những tình cảm đã được tiết chế, nó chỉ là một tiểu phẩm phải có người đa tài mới dùng nổi, và một khi nó đã được phổ biến trên ngàn năm thì tất nhiên người ta phải chán nó, tìm những thể mới hợp với tình cảm mới của người ta hơn…”.

Một quan niệm rất đạt lý về luật thơ Đường.

Rõ là lời nói của người học rộng, thấy xa, xét kỹ, nghĩ chín.

Qua văn tôi đoán biết tác giả Văn học Sử Trung Quốc là một nhà văn chân chính, một cây bút uyên thâm và thận trọng. Tôi liền đem lòng ngưỡng mộ và tìm thêm những tác phẩm khác để xem. Tác phẩm của Nguyễn quân có nhiều loại, sáng tác, biên khảo, dịch thuật… loại nào văn chương cũng bình dị, tự nhiên, nhiều khi cũng rất khúc chiết nhưng luôn luôn minh bạch không hề gây nơi người đọc những sự hiểu lầm.

Càng đọc Nguyễn quân, lòng tôi càng thêm yêu kính.

Song mãi 10 năm sau, tôi mới bắt đầu làm quen.

Đó là vào năm 1966

Tập thơ Đọng Bóng Chiều ra đời, tôi gởi tặng Nguyễn quân một bản đặc biệt.

Nguyễn quân phúc đáp:

Từ trước tôi vẫn thích cái vẻ cổ kính, trang nhã, điêu luyện và cái nhạc trong thơ của ông. Trong tập Đọng Bóng Chiều này, vẻ cổ kính còn hơn cả trong tập Mùa Cổ Điển.

Những bài Song Chiều, Run Phiếm, Rót Hương, Buồn thương, Tháng Ba Gió lạnh, Nửa Mộng, Đốt Cảnh, Bên Sông, Qua Xuân, Lặng lẽ… đều có những câu tuyệt thú, đủ tình, cảnh và nhạc. Tôi xin trân trọng cảm ơn ông. Tủ sách tôi thêm được một tác phẩm quí nữa. Sau này chắc không còn ai có cái giọng như ông đâu.

Tôi vốn mến cảnh Trung Việt. Từ mấy năm nay, vẫn mong cuốn Nước Non Bình Định của ông. Cảnh Bình Định mà được ông tả thì mới thật là xứng. Chắc nội năm nay nó ra mắt độc giả chứ?

Xin kính chúc ông được vạn an.

Thư đề ngày 9/4/1966. Đó là bức thư đầu tiên tôi nhận được của Nguyễn Hiến Lê. Tôi hết sức cảm động.

Tập Nước Non Bình Định đã viết xong và đã giao cho Nhà Xuất bản Nam Cường, song nhà xuất bản cứ hẹn rày hẹn mai, thành ra tập thơ ngũ tuyệt Mộng Ngân Sơn giao cho Kim Lai ấn quán sau mà lại ra đời trước.

Mộng Ngân Sơn ra đời mùa xuân năm 1967.

Nhận được sách tặng, Nguyễn quân liền đáp:

Năm trước ông đã cho thơ, năm nay ông lại cho thơ. Thơ ngũ ngôn mà tuyệt cú thì khó hơn thơ thất ngôn nhiều; mà trong tập Mộng Ngân Sơn này cũng có những bài tôi rất thích như Chiều Tiễn Biệt, Bến Đò Xưa, Nhớ Em, Đơn giản, Nghe Chim Huýt Cô, Búng Chân, nhất là hai câu cuối bài Cánh Hoa Sim, bài Chiều Thu, bài Trăng Khuya…

Tôi không chắc đã hiểu ý ông, nhưng gởi Phạm Công Thiện mà viết:

“Lịu địu bóng nhàn vân”

thì tôi thấy thú quá!

Ngay bài tựa của ông, tôi cũng thích rồi. “Đời mới tịch dương, còn đủ sức còn cố gắng”. Không biết ngày nay còn có được nhiều người thích lối viết trong bài đó không.

Thấy rao Nước Non Bình Định sắp ra, tôi mừng lắm. Yêu thì không gì yêu bằng quê hương, cho nên viết về quê hương thì không gì thú bằng mà vì thú mà dễ hay.

Ông được viết về Bình Định, ông Đông Hồ được viết về Hà Tiên, còn tôi thì chắc không bao giờ được viết về Sơn Tây cả! Xa quê tử năm 25 tuổi và bây giờ…

(Sài Gòn 2/3/1967)

 

Một năm sau Mộng Ngân Sơn, Nước Non Bình Định mới in xong.

Sách ra đời nhân lúc biến cố Mậu Thân (1968), nên việc gởi tặng bạn xa có phần chậm trễ.

Nhưng vì “đã nóng chờ Nước Non Bình Định từ hai năm trước, cho nên trong biến cố đầu xuân, khi các tiệm sách ở Sài Gòn lác đác mở hé cánh cửa, Nguyễn quân vội đi tìm ba lần mới kiếm được, đem về đọc trong những giờ giới nghiêm”. Và sau khi nhận được sách tôi gởi tặng, Nguyễn quân viết thư tin cho tôi biết rằng đã viết bài giới thiệu Nước Non Bình Định gởi đăng ở tạp chí Tin Văn, và ghi sơ các ý chính trong bài giới thiệu:

Phần núi sông ông viết rất kỹ, tôi theo dõi ông từng bước rất mong được thấy núi MẠ THIÊN SƠN và NÚI XƯƠNG CÁ.

Cảnh HẦM HÔ, GIẾNG TIÊN, chùa LINH PHONG, ông tả khéo, tôi chắc nhiều người sẽ mê.

Mươi trang lịch sử của ông gọn mà đủ; rải rác trong sách có nhiều cố sự, truyền thuyết và thơ.

Tài liệu rất phong phú, văn tao nhã mà tấm lòng với quê hương thật đẹp.

Trong đoạn kết, có mấy hàng này, tôi xin chép để ông coi trước:

– Tôi nghĩ dù không có tập Mùa Cổ điển và tập Mộng Ngân Sơn, một tập chứa nhiều bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt rất hay mà sau này ai có muốn làm tiếp công việc phê bình của Hoài Thanh tất phải nhắc tới, dù không có hai tập đó đi nữa thì chỉ nói công phu viết địa phương chí cho Bình Định, thi sĩ cũng xứng đáng là người con của Bình Định rồi.

(…) Tấm lòng của ông với quê hương thật là đẹp! Quê hương lẽ nào không quí tác phẩm của ông?… (Sài Gòn 3/4/1968).[1]

Nhân trong Nước Non Bình Định tôi có giới thiệu giống trà Cam Khổ và khen hơn cả trà Vũ Di Sơn, trà Trảm Mã, uống vào rồi thì cuống họng ngọt và thơm đến hàng giờ, Nước Non Bình Định “ước gì bình an trở lại, có được dăm cành để nhấm cho biết cái hương vị”.

Đối với Xứ Trầm Hương ra đời vào đầu xuân 1970, Nguyễn quân cũng rất hoan nghênh, và có bài giới thiệu đăng tạp chí Văn số 150 ra ngày 15/13/1970.

Cũng như trong bài giới thiệu Nước Non Bình Định, tình của Nguyễn quân trong bài giới thiệu Xứ Trầm Hương, chứa chan đối với non sông và niềm nở đối với tác giả. Tôi sung sướng viết thư tỏ nỗi lòng. Nguyễn quân đáp:

– Viết văn có hai cái thú: Diễn được ý của mình và gặp được người đồng thanh hiểu được lòng mình. Ngoài ra, còn có gì nữa đâu?

Tôi hoàn toàn đồng ý.

Nhân Nguyễn quân gởi tặng tôi cuốn Cổ Văn Trung Quốc và bộ Văn Học Trung Quốc Hiện Đại, tôi viết thư vào tán thưởng, có nhắc đến bộ Đại cương Văn Học Sử Trung Quốc cùng tấc lòng của tôi đối với bộ sách ấy. Nguyễn quân đáp.

Được hai bậc đàn anh khen, ông và ông Vi Huyền Đắc, tôi thật vui lòng, và xin tỏ ít nỗi niềm:

Hán học của tôi là thứ tự học, sơ sót nhiều lắm. Mỗi lần viết một cuốn về Trung Hoa thấy mệt quá, và in rồi thì cuốn nào cũng thấy có nhiều lỗi, nhiều lỗi nặng nữa. Ấy là đã thận trọng, gặp chỗ bí, hỏi các bạn rồi – như ông Giản Chi chẳng hạn. Độc giả từ trước đến nay chưa ai nỡ nặng lời chê, chắc cũng lượng tình cho rằng tôi thành tâm, thế thôi.

Mà thực tình là tôi thành tâm: thấy thiếu loại sách đó, nên biết là không đủ sức mà vẫn cứ viết. Lại biết rằng sẽ chỉ có một số ít người đọc thôi. Như cuốn Cổ Văn Trung Quốc mấy năm rồi, chưa bán được ngàn cuốn. Bộ Văn Học Trung Quốc Hiện Đại cũng không hy vọng gì hơn. . . (Sài Gòn 7 / 12 / 1969).

Tình chân ý khiêm: Thái độ của kẻ sĩ.

Đọc đến bộ Chiến Tranh và Hòa Bình của Nguyễn Quân dịch bộ Guerre et Paix của Tolstoi, mới thấy sức làm việc của Nguyễn quân dồi dào và bền bỉ khó có người sánh kịp. Công phu đã dày mà văn chương lại rất hấp dẫn. Thời Pháp thuộc tôi đã đọc bản chữ Pháp rồi, mà đọc bản dịch của Nguyễn quân tôi vẫn bị lôi cuốn. Bị lôi cuốn không phải vì cốt truyện, bởi cốt truyện đã được biết rồi, mà bị lôi cuốn vì mát mẻ ngọt ngào của văn chương.

Thường thường những nhà văn dồn tâm trí vào việc biên khảo, thì ít hay tìm hướng những cái đẹp cái quí nơi cảnh vật thiên nhiên. Cho nên tâm hồn có phần khô khan. Đến với họ , chúng ta có cảm tưởng là đến thăm những cảnh vườn trồng cây ăn trái, không có hoa lãng mạn, bướm du dương: Nguyễn quân yêu thiên nhiên cũng như yêu sách vở. Và đứng trước thiên nhiên dù là một cảnh tầm thường đến đâu, Nguyễn quân cũng tìm thấy những nét độc đáo để thưởng thức.

Tập Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười của Nguyên Quân chứng minh lời nói của tôi.

Nói đến Đồng Tháp Mười phần đông chúng ta chỉ nghe nói đến sình lội tới đầu gối và rộng hàng trăm thước, đến rắn hổ dài đến ba thước, đến đỉa trâu lớn bằng ngón chân cái, đến muỗi bay từng đám như đám mây, đến lau lách đìu hiu, đến những cánh đồng mênh mông và đầy chướng khí… Nhưng theo chân Nguyễn quân, chúng ta sẽ được chỉ cho thấy biết bao nhiêu cảnh nên thơ:

+ Trước hết là mùi hương của hoa: hoa sao, hoa sấu, hoa mù u. Hương thấm vào nước, ngào ngạt trong sương mai. Nguyễn quân kể lại: “Tôi nhớ mấy năm trước, đi đò ờ miền Hậu Giang, có lần vào xin nước mưa trong một nhà lá nhỏ nọ, tôi cầm chén nước vừa đưa lên miệng thì ngừng lại: Nước thơm quá y như là ngâm hoa. Rút khăn ra chùi miệng, khăn cũng phảng phất có hương. Nhìn lại mới thấy căn nhà cất giữa một khu trồng đầy sao và mù u”. Mới lên xe để đi đến Đồng Tháp vào lúc mờ sáng, Nguyễn quân đã cho chúng ta hít đầy phổi không khí thơm mát, trong lành…

+ Rồi đến những cảnh trên các rạch nước, trong những buổi chiều rực rỡ ánh hồng của mặt trời chiếu vào những chiếc buồm vàng hoặc trắng, ngọn gió hây hây thổi phất phất chiếc áo của các cô chèo ghe. .. Kẻ nhổ sào ra đi thường vui, nhưng cũng có vài người tiếc cái bến tạm, cất tiếng hò từ biệt người bạn đường mới gặp mà đã phải xa nhau, “Gặp nhau còn biết trên sông bến nào?” Những tình đó có khi thoảng qua, có khi bền chặt, luôn luôn giúp cho đời sống giang hồ có chút thi vị.

Đến GÃY – nơi kinh Lạc Giang và kinh Cát Bích gặp nhau thành một mũi nhọn kỳ dị, không khác một cành cây bẻ gập lại, – Nguyễn quân cho chúng ta thấy một cảnh lạ lùng: “Khoảng bảy giờ chiều, một cảnh mà chúng tôi không bao giờ quên được hiện ra trước mắt: Mặt trời lớn bằng cái nia, đỏ như cục than hồng, chìm lần trong đám khói mông lung ở chân trời; con kinh lấp lánh tựa xà cừ, đâm thẳng vào mặt trời, rồi bỗng nhiên ngừng lại, như bị chặt ngang mà đứt khúc. Tôi có cảm tưởng rằng chỗ đứt ấy là một vực thẳm và bao nhiêu nước trong kinh ùa cả vào vực mà xuống âm ti”.

(Cảnh chợ Hồng Ngự)

Cảnh chợ Hồng Ngự, đứng dưới tàu mà nhìn lúc mặt trời đã lên cao, thì thực là một bức tranh linh động và đủ màu: “Khăn choàng vàng đỏ phất phơ trên đường, ghe sơn xanh hoặc lam rập rình dưới bến; dừa ngả mình soi gương trên làn nước trong veo, nước dưng lên dờn tàu lá mềm mại láng mướt. Những chiếc tam bản hai chèo nhẹ như chiếc lá, lướt lên trên mặt nước loang loáng ánh hồng, lượn một đường cong cong và từ từ ghé bến, êm như vuốt ve. Cử động của thiếu nữ chèo tam bản nhịp nhàng uyển chuyển làm sao! Hai tay đưa ra trước, chân đá nhẹ ra sau, thân mình nghiêng nghiêng, áo quần phất phất…”

Còn bao nhiêu cảnh đẹp ở hai bên bờ kinh chạy qua những miền vườn tược tươi tốt, văng vẳng tiếng ca, tiếng hò, tiếng dệt cửi, xay lúa, tiếng trẻ em đánh vần, tiếng thiếu phụ ru con…

+ Trên những cánh đồng hoang vu, trên những dòng cô tịch… Nguyễn quân vẫn chỉ cho chúng ta thấy những cảnh đáng yêu:

“Sen! Sen mọc trong một cái lũng dài và rộng, nước còn độ vài tấc. Hàng ngàn bông đỏ điểm trên một nền xanh nhạt. Không khí chung quanh mát rượi và thơm phức. Gió hây hây trên mặt nước, sen rung rinh tỏa hương… Nhưng ánh chiều đã tà. Dù hoa có khoe sắc để giữ người lại thì cũng không thể nghỉ đêm bên hoa được. Phải đi. Đi mà cứ vài bước lại quay lại, cho tới khi bóng sen khuất hẳn…”

Khói và sương chiều bao phủ cánh đồng. Cảnh lạnh lẽo cô liêu có một. Vài đóm đỏ hiện lơ lửng ở chân trời như ngôi sao mới mọc. Giồng Lâm Vồ đấy. Ánh trăng vốn huyền ảo, trên ngọn giồng, giữa đồng cỏ dại này, lại càng huyền ảo. Nhìn xa xa chỉ thấy một màu mông lung, xanh xanh, xám xám. Vài tiếng sột soạt của rắn, chuột, trong đám năng, lát; một đám cỏ lay động dưới chân giồng rồi lại yên lặng hẳn… Trăng vằng vặc. Vài ba cái giồng nằm ở chân trời như những con vật khổng lồ đương thiêm thiếp ngủ.”

Còn nhiều cảnh đẹp khác. Mỗi cảnh có mỗi vẻ cớ mỗi thú, không cảnh nào giống cảnh nào.

Trong Đồng Tháp Mười, tác giả còn cho chúng ta thấy những phong tục lạ, những cố sự mà sử không thấy chép, những câu chuyện ly kỳ. Tôi thích nhất là chuyện cặp vợ chồng trẻ đã xảy ra ở Gãy:

“Ở Gãy lúc bấy giờ chỉ có độ mươi chòi lá. Một ngày đầu năm, một cặp vợ chồng trẻ chèo một chiếc xuồng tới, lên bờ tìm một miếng đất cất chòi. Họ chưa có con cái, ít giao du với ai. Người vợ không có sắc nhưng có duyên, người chồng lầm lì, ít nói và rất siêng năng.

Vợ nuôi heo, chồng làm ruộng. Thỉnh thoảng trong những đêm trăng, người ta nghe thấy trong chòi của họ cất lên tiếng hò. Mỗi lần như vậy thì ai nấy đều lắng tai nghe, người đương thiu thiu ngủ cũng phải tỉnh và tiếng ru con bặt hẳn vì giọng hò hay quá: giọng người vợ lanh lảnh, giọng người chồng thì trầm trầm, gợi lòng nhớ nhung thương tiếc những cõi xa xăm. Chất phác như dân quê ở đây mà đã nhiều người thổn thức khi cặp vợ chồng đó cất tiếng.

Điều đặc biệt là lâu lắm họ mới hò một lần mà chỉ hò trong những đêm trăng và chưa ai thấy chồng hoặc vợ hò với người thứ ba bao giờ.

Họ sống như vậy trên một năm. Một lần nọ, chồng vào trong đồng xa phát cỏ luôn bảy ngày. Khi chàng về nhà, vai vác phảng, lưng đeo nóp, thì trời đã sẩm tối. Mặt trăng vàng vàng lơ lửng trên ngọn so đũa. Tới cách nhà độ hai trăm thước chàng ngừng lại, cau mày, lắng tai nghe: Có tiếng hai người hò mà y như giọng của… Phải, đúng cái giọng lanh lảnh ấy. Anh ta cố lắng tai nghe. Trong ngọn gió anh nhận được vài tiếng của người kia, ngân nga và réo rắt.

Anh ta tự nghĩ:

– Miền này có ai mà hò hay như vậy?

Anh lặng lẽ bước tới, vẫn lắng tai nghe.

Khi đến nơi thì thấy một đám đông: từ người trong xóm đến các người trong ghe xuồng đậu dưới kinh đều tụ lại nghe hò. Không ai để ý đến chàng.

Chàng lựa một chỗ để nhìn rõ nét mặt hai người đang hò: Người đàn ông đẹp trai, trán cao, mắt sáng miệng rất tươi; Còn người vợ chàng thì sao hôm nay bận chiếc quần hàng Tân Châu thường ngày cất trong giỏ.

Hai bên vẫn đối đáp nhau: Giọng bên nam mỗi lúc mỗi quyến rũ, bên nữ dần dần có vẻ say sưa. Chàng yên lặng nghe, mơ màng: Khi hai người mới ở chung với nhau, nàng thường có giọng ấy; đã ba năm rồi, giọng có phần kém, và tối nay…

Bên nam cất tiếng, lời có chút gay gắt quyết liệt gắn bó:

– Hò o o ơ ơ… Mù u bông trắng lá thắm nhụy vàng, ơ ơ ơ. Anh đi khắp xứ, tới đây mới được gặp nàng.

Ơ ơ ơ. Thật là dễ thương… ơ ơ…

Hò ơ ơ ớ ớ… Nghe giọng nàng, anh những vơ vấn vấn vương…

Sống cùng nhau chẳng được cho anh phải mơ màng chiêm bao.

Chàng hội hộp đợi vợ đáp.

Suy nghĩ một chút, bên nữ cũng cất tiếng:

Hò o o ớ ớ… Lửng da trời bay lượn con chim hồng,

Ơ ơ ơ Gặp nhau sao quá trễ cho tấm lòng này xót xa.

Ơ ơ ơ Đêm nằm em luống những thở ra,

Đôi ta chẳng…

Tới tiếng “đôi ta” mắt nàng sáng lên, đắm đuối trong ánh trăng và giọng nàng hơi lơi lả.

Đám đông bỗng vẹt ra. Có cái gì loang loáng vút trong không, đầu thiếu phụ đã lăn trên đất, một dòng máu đen vọt lên. Ai nấy chạy toán loạn.

Đêm hôm ấy một chòi lá cháy rực trong xóm mà không ai dám lại cứu. Sáng hôm sau, một ngôi mộ mới đắp hiện lên ngay chỗ thiếu phụ chết. Còn người chồng thì từ đó biệt tăm, không ai biết là đi đâu.

Khi nghe giọng bất chính của vợ, chàng nổi cơn ghen và chém vợ bằng cái phảng ở trong tay.

Đọc thích thú quá, tôi hèn viết thư cho Nguyễn quân. Nguyễn quân đáp:

– Xin đa tạ ông đã đọc rất kỹ Đồng Tháp Mười… Những đoạn ông khen cũng chính là những đoạn tôi thích, mà một số bạn nữ cũng thích. . . (Thư 6 / 11 / 19 71)

Trong một bức thư nói về phong cảnh đẹp của đất nước, Nguyễn quân nói:

– Tôi nghĩ phong cảnh đẹp mà không có di tích của danh nhân thì cũng không thú, vì trước cảnh mình không có lòng hoài cảm, cảm xúc không đậm. Nước mình có rất nhiều cảnh đẹp mà rất ít nơi có di tích, có thì cũng không biết bảo tồn, không biết nhắc nhở cho du khách chú ý vào, nhất là thiếu di tích của danh sĩ. Điều đó tôi rất hận. Tới Hà Tiên mà không thấy di tích của CHIÊU ANH CÁC, cũng không có một tấm bia cho biết Chiêu Anh Các hồi xưa ở đây, thì kém thú nhiều lắm… Cái việc ông xây mộ cho HÀN MẠC TỬ là việc tốt đối với bạn, mà thực cũng là việc tốt cho những du khách sau này nữa. Đã trên 25 năm nay, có lần tôi ghé Qui Nhơn được nửa buổi, chỉ vừa kịp lại GÀNH RÁNG rồi trở về. Lần đó tôi chỉ ngó qua nhà nghỉ mát của Bảo Đại, không thấy có cảnh gì đẹp lắm. Lần sau có ra, tôi sẽ được ngắm thêm ngôi mộ của Hàn Mặc Tử và cảm xúc của tôi tất nhiên hơn… (Thư 22/ 4 / 1968).

Vì lòng yêu cổ tích nên năm 1939, vào Đồng Tháp Mười kinh lý, Nguyễn quân đã tìm đến Giồng Tháp, nơi xưa dùng làm Tổng hành dinh của nghĩa quân chống Pháp do Thiên hộ VÕ DUY DƯƠNG lãnh đạo (1862-1866). Cùng với một người bạn thân, Nguyễn quân đã băng qua một khoảng đường dài hơn 2 cây số trong lau lách và dưới bóng trăng mờ mờ

– Sao không đi ban ngày mà lại đi ban đêm?

– Di tích chẳng còn gì, không cần đi ban ngày để nhận xét. Đi ban đêm được cái lợi là dễ thông cảm với cố nhân.

Đó là lý. Nhưng tình thật là nhân “nhìn cánh đồng mờ mờ dưới ánh trăng mà nghe tiếng đàn gáo ảo não ở trên bờ kinh” lòng Nguyễn quân “bồi hồi nhớ lại người xưa”. Nhớ người xưa mà đi… Và khi đến Tháp:

– Lòng tôi – Nguyễn quân cho biết – hơi hồi hộp như lần đầu tiên tôi thấy núi Hùng: Con đường cũng ngòng ngoèo như khi tới núi Tổ. Giồng Tháp tuy không cao, nhưng cũng sừng sững ở trước mặt tôi nghiêm trang như núi Tổ.

Một tâm hồn tế nhị và nhạy cảm.

Chẳng những dễ cảm xúc trước những danh thắng, lòng Nguyễn quân vẫn thường rung động trước những cảnh trong vườn trong sân, trong những nơi mà ngày ngày ai cũng thấy nhưng không mấy ai lưu tâm. Chúng ta đã được cùng với Nguyễn quân hưởng nhiều thú vị trong những cảnh “rất tầm thường”, ở Đồng Tháp Mười. Tôi lại còn được Nguyễn quân chia phần, mỗi khi bắt gặp cảnh nên thơ ở quanh mình ở trước mắt:

+ Nằm giường bệnh nghe mấy con chim (không biết tên là gì) hót ờ xa xa, và bầy chim se sẻ ríu rít mỗi buổi sáng ở ngay cửa sổ, có khi chúng bay vào phòng, ngó nghiêng ngó ngửa, chíp chíp một lát rồi bay vù ra. (Thư 2 / 11/ 1972)

+ Cây đuôi chồn (một loại lilas) đương nhiều hoa: bướm và ong cùng tới một lượt, buổi sáng. Nó làm tôi nhớ một cây loại đó trên đường từ nhà tôi tới trường tiểu học Yên Phụ ở Hà Nội; lá nó quanh năm xanh như ngọc thạch, chỉ trừ hồi cuối mùa nắng, nó gần rụng, đỏ như lá vàng, hương ngào ngạt, và bướm ong tới rất nhiều, có lần cả mấy trăm con. (Thư 30 / 9 / 1978).

+ Cái mương bên cửa sổ phòng viết của tôi rộng độ 4, 5 thước, dài chừng 30, 40 thước, nhờ mùa lụt năm ngoái mà nay còn nước, chỗ sâu nhất được một thước nước, hai tháng nữa sẽ khô. Hiện nay mặt nước đầy bèo cám, lấp lánh vàng dưới ánh nắng. Hai bên bờ là những cây xoài, mận, chuối, dừa, có cả một khóm trúc nữa. Tàu dừa, nhất là cành trúc ở sát bờ, chiếu bóng xuống mặt bèo, nét chỗ mờ mờ, chỗ đậm sắc, đẹp hơn một bức họa của Mễ Phế. Một đàn 5 con vịt, có 2 con trắng, ngơ ngác trôi trên mặt bèo, ung dung, để lại phía sau một vạch nước lần lần bị bèo khép lại. Tôi nằm ở chiếc võng, dưới mái hiên và tàn mận, nhìn cảnh không chán. Trời xanh ngát, hoa mận lả tả rắc xuống bờ nước; sáng và chiều thoang thoảng hoa xoài. Về Long Xuyên lần này, tôi chỉ còn có mỗi cái vui đó…

Trước cứa nhà tôi lại có một cây lớn, gọi là cây Nính, cao đến 20 thước, thân đến hai ôm, cứ lúc đầu xuân này lá thay một lượt, bay lả tả suốt ngày đêm. Độ nửa tháng là trút hết lá. (Trong nửa tháng đó sáng sớm nào cũng có một cô giáo dắt 4 đứa trẻ nhỏ lại hốt lá đựng đầy bao bố tời, chụm được 2 ngày, khiến tôi nhớ lại 60 năm trước tôi lượm lá bàng như họ ngày nay). Lá non đâm ra một loạt xanh mơn man. Nhớ xuân ngoài Bắc quá. Trong Nam tôi chỉ thấy có mỗi loại đó là còn nhớ xuân! Nha Trang có cây nào như vậy chăng? Cây Nính có hoa có trái nhưng vô dụng… (Thư Long Xuyên 10 / 2 / 1979)

+ Sáng tôi thức sớm, năm giờ nằm chờ chim hót. Khoảng 5 giờ rưỡi, luôn luôn có một loài chim, tôi không biết tên, mở đầu buổi hội bằng 3 notes Tuy Tùy Túy, giọng cơ mà trong. Tiếp theo là các loài chim khác, đều lạ, (không có chim sẻ) đua nhau hót, rất vui, trong khi trên mặt đất là tiếng gà gáy, nghe thô làm sao! Cuối cùng luôn luôn có con cuốc chấm dứt buổi hội.

Thế là vườn lại vắng

Tôi ra vườn hưởng hương xoài và hương mai vàng. Hương xoài mát, hơi hắc, hương mai thoang thoảng, kín đáo, sang.

Một lát sau ánh nắng nhuộm vàng cả cảnh vật, từ cây cỏ đến người, phố xá… Càng gần trưa thì da trời càng xanh ngắt, thăm thẳm và trong (Long Xuyên 16 / 2 / 1981).

vân vân…

Những cảnh thú đó, không biết Nguyễn quân có chia cho bạn nào nữa chăng, hay là chỉ riêng một mình tôi được chung hưởng?

Nguyễn quân cho tôi được chung vui là vì qua NƯỚC NON BÌNH ĐỊNH và XƯ TRẦM HƯƠNG, biết rằng tôi đồng sở thích. Tôi cũng thường trình bày cho Nguyễn quân biết những cảnh nho nhỏ mà tôi thấy đẹp ở quanh tôi. Nguyễn quân cho rằng tôi có nhiều điểm giống mình, về văn chương cũng như về nhân tình thế sự, về đạo đức cổ kim… Cho nên thường gởi thư nói chuyện với nhau.

Thơ từ qua lại, mỗi ngày mỗi thêm tỏ lòng nhau, mỗi thêm yêu mến nhau. Mỗi tháng, ít nhất là chúng tôi gởi cho nhau một bức thư. Vắng thư lòng nhớ nhung như nhớ tình nhân, nhớ quê kiểng.

Thời Tiền Chiến, tôi có 4 người bạn chí thiết là Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê và Yến Lan. Rồi Tử và Khê nối nhau qua đời. Viên và Lan đi tập kết ra Bắc. Suốt một thời gian dài đằng đẵng, tôi không có tri âm, Thi Vũ quen thời Hậu Chiến, ở tận Paris xa xôi quá, Phạm Công Thiện, tuổi còn trẻ và tánh chưa định. Không đủ sức sưởi ấm cõi lòng cô tịch của tôi. Nguyễn Hiến Lê đối với tôi là một lò lửa hồng trong đêm đông mưa gió…

Từ ngày được làm thân cùng Nguyễn quân, tôi làm việc thêm hào hứng. Có những ý nghĩ hay, gặp những câu chuyện thú, được những vần thơ đẹp… tôi đều gởi đến Nguyễn quân và Nguyễn quân luôn luôn đáp ứng.

Có người thấy tôi làm việc siêng nhưng không nghĩ đến việc xuất bản, hỏi:

– Viết để làm gì?

Đáp:

– Để sống.

Nguyễn quân đồng ý, nhưng nói thêm:

– Chúng mình viết để sống, mà ngày ngày cặm cụi viết thành ra Sống để viết. Không viết buồn chịu sao nổi.

Tôi nói bỡn:

– “Gái mười tám, lão tám mươi, lộn qua lộn lại, vẫn người đồng canh”. Cho nên còn sống thì còn viết. Hết viết được thì không còn sống dai.

Lại nói thêm:

– Nhưng còn viết được mà chết thì kể cũng đáng tiếc.

Nguyễn quân đáp:

– Ông tham quá!

Tôi thường phàn nàn cùng Nguyễn quân rằng hầu hết các bạn làm thơ Đường luật của tôi không chịu học. Đến cả tập Thi Pháp Nhập Môn cũng vẫn chưa xem qua!

Nguyễn quân nói:

– Tôi cũng thấy các bạn văn trẻ bây giờ ngông lắm. Tôi nhớ một bạn bảo tôi: “Văn sĩ CALWELL của Mỹ nổi tiếng khắp thế giới mà ông ta bảo không hề đọc sách của ai cả: người viết nhiều thì không đọc, người đọc nhiều thì không viết. Vậy thì cần gì đọc sách?”

– Ngông thật

Nghiêm Vũ đời Tống, một nhà luận thi có trác kiến, thường nói:

– Cái biệt tài trong việc làm thơ không ăn nhập gì đến sách vở học thức cả.

Nhiều người cho lời nói đó là chân lý và xem khinh việc đọc sách. Nhưng họ không nghĩ kỹ rằng tuy bảo “thơ có biệt tài biệt thú”, Nghiêm Vũ vẫn công nhận “không đọc sách nhiều, không suy nghĩ nhiều, thì không thể làm thơ hay được”. Và Vương Sĩ Trinh đời Thanh nói: “Bảo rằng làm thơ có biệt tài không liên quan gì đến học vấn, ấy là nói trong đám người đọc sách chớ không phải nói trong đám người không hề đọc sách… Tính tình Học vấn phải ỷ phụ vào nhau. Học lực có thâm hậu, tính tình mới lộ ra đặc sắc”.

Đem bàn cùng Nguyễn quân, quân khuyên tôi nên đem vào Thi thoại.

***


Tôi là con người thiếu đức TỰ TÍN.

Làm việc gì, việc đời cũng như việc văn chương, tôi cũng đều tận tâm tận lực, nhưng không bao giờ dám tin rằng mình thành công.

Tôi tâm sự cùng Nguyễn quân. Ông đáp:

“- Tôi hơi lạ về lời tâm sự của ông (“thiếu tự tín”), vì thường thường, sở đoản của mình thì ít khi mình biết (hoặc biết mà không chịu tự nhận) còn sở trường thì dễ nhận chứ, nhất là mình đã đọc nhiều, tự so sánh với các cây viết đồng thời.

Ông cứ vững tâm đi. Về thơ cũ, nhất là thơ Đường luật hiện nay chỉ còn ông và ông Đông Xuyên, mỗi người một vẻ, nhưng đều đạt tới một mức cao, hơn thơ cũ của Đông Hồ.

Đông Xuyên không viết văn. Còn văn của ông có phần không tươi bằng văn Đông Hồ, nhưng ông tả cảnh hay hơn, và văn Đông Hồ đôi khi hơi cầu kỳ, văn của ông không mắc phải lỗi đó.

Tôi không nhớ trong một bài báo hay cuốn sách nào, cách đây hơn một năm, một bạn trẻ cũng nói rằng thích văn của ông hơn thơ của ông nữa (phải lớn tuổi mới thích thơ ông được). Vậy ông còn nghi ngờ gì nữa?”.

Nhận thấy tình Nguyễn quân rất chân thật nên hễ hoàn tất được tác phẩm nào tôi đều gởi vào cho Nguyễn quân xem. Về thơ thì Nguyễn quân chỉ nêu ra những bài những câu ưa thích. Còn về văn xuôi thì Quân xem đi xem lại đôi ba lần, rồi chỉ cho biết những ưu những khuyết. Những tập thi thoại Hương Vườn Cũ, Trong Vườn Hoa Thơ, Hứng Phấn Nâng Hương, tập nào cũng dày trên dưới 500 trang pelure đánh máy hàng dày mà vẫn được Nguyễn quân khuyên và sổ từ đầu đến cuối. Cho đến những lỗi về chính tả (chứng bất trị của tôi) cũng được Nguyễn quân nêu ra để tôi sửa chữa hoặc tự sửa giùm. Ý kiến của Nguyễn quân rất xác đáng. Tôi luôn luôn phục tùng.

 

Riêng tập Đời Bích Khê, tôi chia làm 4 chương cho dễ viết:
– Những quãng đời,
– Những cuộc tình duyên,
– Đời thơ,
– Chút tình riêng.

Tôi nhận thấy không được nhất trí: Đọc lại tôi có cảm giác ăn gỏi gà mà ăn thịt riêng, ăn rau sống riêng, ăn đậu phụng rau răm riêng… Nguyễn Hiến Lê đồng ý với tôi và bảo:

“- Nếu ông viết lại cuốn đó thì tôi đề nghị lồng cả ba chương II, III, IV vào chương đầu. Ông cứ theo thứ tự thời gian mà chép. Lúc thì chép đời sống, lúc thì phân tích tâm lý, lúc thì phân tích thơ, và thêm ít đoạn tả cảnh những nơi Bích Khê đã sống nữa (đây là sở trường của ông); như vậy tác phẩm sẽ linh động, hấp dẫn và nhất trí hơn.

Nhưng sức khỏe ông không biết còn dồi dào không; chứ tôi nghĩ tới cái việc viết lại hết thảy như vậy thấy ngán lắm. Chắc tại tôi yếu hơn ông rồi, mặc dù tuổi tôi còn kém…” (Thư 6 / 11 / 1971).

Ý của Nguyễn quân thật hợp với ý tôi.

Tôi muốn viết lại. Song thấy mất công quá. Thêm còn nhiều vấn đề khác quan trọng hơn. Nên đành phải để vậy.

Những khi đọc thư tôi thấy có giọng chán nản buồn bã, Nguyễn quân liền viết thư ra an ủi khuyến khích.

Chẳng những về mặt tinh thần mà thôi, về mặt vật chất tôi cũng được Nguyễn quân giúp đỡ:

Năm 1973, tôi bị bệnh Glaucome, tức bệnh Thanh quang nhãn do bệnh Thiên đầu thống gây nên. Bệnh phát chỉ một đêm, đầu nhức như bị búa bửa. Sáng ra đến Bác sĩ khám thì một mắt đã hỏng mất rồi! Chữa suốt cả tháng vẫn không hết nhức đầu phải vào Sài Gòn mổ. Đầu hết nhức song mắt vẫn mù một con. Tôi tự an ủi:

– Cụ Nguyễn Đình Chiểu mù cả hai con mà vẫn vui, mà vẫn nhờ Lục Vân Tiên tỏ niềm hy vọng:

Đêm nằm mơ thấy ông tiên

Bưng cho chén thuốc mắt liền sáng ra.


Thì mình tội gì lại không lạc quan.

Sau khi ra bệnh viện, tình cờ gặp một lương y nổi tiếng về nhãn khoa. Lương y giỏi chữ Pháp, họ Cao, người Bắc Việt di cư ở tại Vân Đồn Sài Gòn. Lương y rằng đã từng chữa khỏi bệnh Thanh quang nhãn cho nhiều người. Chỉ cần có tê giác pha với thuốc thì nhất định chữa sáng con mắt bệnh và giữ vững con mắt lành. Tê giác lúc bấy giờ rất hiếm. Đôi tiệm thuốc Tàu có bán song giá đến 6.000 Đ mỗi chỉ. Mỗi ngày tôi phải uống một thang thuốc pha với một chỉ tê giác, và phải uống ít nhất là vài ba tháng mới có hiệu quả.

Không thể bỏ tiền ra mua tê giác nơi các chú Ba Tàu, tôi lo chạy tìm lấy.

Các thân hữu gần, xa nghe tin, ai nấy đều để ý tìm mua giùm.

Nhưng tìm mãi không có.

Tôi chợt nhớ lúc nhỏ nghe nói nơi Từ Đường họ Quách có một “U Tây” của ông bà Cao để lại, tôi liền về Bình Định. Chị Quách Cư, người thừa tự hiện kim, bảo tôi:

– Vật gia bảo không thể đem đi xa được. Chú có muốn dùng thì về đây mỗi bữa mài một ít mà dùng. Và mài với nước chớ không được nạo bằng dao.

Thầy thuốc ở Sài Gòn, tôi ở Nha Trang, tê giác ở Bình Định và chỉ được phép mài chứ không được nạo, thì thuốc làm sao chế cho được?! Âu đành làm con độc nhãn long cho khỏe thân. Cuối năm 1973, tôi nhận được thư của Nguyễn Hiến Lê cho biết:

Non tháng trước Thi Vũ cho tôi hay ông định uống thuốc Bắc, mỗi thang cần 1 chỉ tê giác giá 6.000$00. Tôi nhớ khoảng 1935-1945, bác tôi có thứ đó, do mấy ông thầy Quảng (Nam Ngãi) đem vô bán. Mấy ông thầy Quảng này biết chút ít chữ Hán, vô trong Nam này kiếm những nhà điền chủ giàu mà trọng chữ Hán, để bán đủ thứ thuốc hiếm: Quế Thanh, Long Diên Hương, Tê giác, Vảy Trúc, v.v… lâu lâu bác tôi đem mài trị bệnh cho người thân, bảo tê giác giải nhiệt và giải độc. Tôi bèn viết thư hỏi ông anh tôi (Bác tôi đã qui tiên gần 15 năm rồi), may ông ấy còn giữ, cưa một nửa gởi cho tôi. Tê giác mới tới hôm nay nhưng ông Châu Hải Kỳ một tuần trước bảo ông không uống thuốc Bắc mà dùng thuốc Nam, thấy bớt nhiều[1]. Vậy lúc này ông chưa cần tê giác. Khi cần xin ông cho hay, tôi sẽ gởi ra. Tôi mù tịt, nó có phải là thứ thiệt không, nhưng tôi đoán cả thế giới chỉ còn được mấy chục con tê ngưu ở châu Phi, thì khó mà có thứ thiệt được lắm… (Sài Gòn 7/12/1973).

Tôi mừng quá, sai con vào Sài Gòn phân khúc tê giác đem đến Cao lương y. Lương y xem đi xem lại rồi đem nhờ người Tàu chuyên môn ở Chợ Lớn giảo nghiệm. Kết quả: sừng sơn ngưu chớ không phải sừng tê giác. Không dùng chế thuốc được!

Không đùng trị mắt được, khúc sừng này đối với tôi vẫn là một bảo vật. Giá trị tinh thần không biết nói gì cân, không biết lấy gì lường! Tôi xin Nguyễn quân cho tôi giữ làm kỷ niệm[2].

Trong lúc tôi đau mắt, ngoài vợ con tôi ra, Nguyễn quân và Thi Vũ là hai người lo cho tôi nhiều nhất.

Báo tin bệnh cho Nguyễn quân, tôi có mấy vần hí hước:

Duyên văn chương đương thắm
Thân già bỗng đảo điên
Một đêm đầu nhức nhối
Suốt tháng bệnh triền miên
Hóa nửa cụ Đình Chiểu
Không hai chàng Vân Tiên
Nên đường hoa chỉ thoáng
Những bán diện thuyền quyên.

Trong lúc tôi nằm bệnh thì có hai tác phẩm của tôi ra đời: Tập Giọt Trăng do Thi Vũ ấn hành ở Pháp và tập Tố Như Thi Trích Dịch do An Tiêm xuất bản ở Việt Nam. Nhân đó Nguyễn quân viết một bài đăng ở tạp chí Bách Khoa, số 401 ra ngày 15 / 12 / 1975, nhan đề là Thi Sĩ Quách Tấn, Hai Tập Thơ Một Chứng Bệnh.

Bằng những lời nhẹ nhàng giản dị, Nguyễn quân giới thiệu một cách đầy đủ cả hình thức lẫn nội dung tập thơ sáng tác và tập thơ dịch: “Trong một năm giữa lúc củi quế gạo châu này mà cho ra được hai tập thơ. Tập nào cũng hay cũng đẹp là một điều hiếm thấy”. Nguyễn quân giới thiệu qua đôi nét về khả năng sáng tác và sự nghiệp văn chương của tôi để bước qua chứng bệnh tôi mắc phải, và kết luận: “Nghĩ vậy tôi cũng thấy hai tập Giọt TrăngTố Như Thi ra đúng lúc này an ủi ông được nhiều, nhiều lắm”.

Đúng vậy, sự ra đời của hai tác phẩm kia an ủi tôi rất nhiều, mà bài văn của Nguyễn quân là một thang thuốc bổ tinh thần vô giá. Đọc bài của Nguyễn quân, các bạn gần xa mới hay tôi có bệnh ngặt nghèo, kẻ gởi thư thăm, người khuyên nên dùng thuốc này, chữa cách nọ. Có hai ông bạn tôi chưa từng quen biết là ông Đỗ Trọng Lễ, Đông y sĩ ở Châu Đốc, huyện Sơn Tùng, một độc giả của Bách Khoa, gợi cho những phương thuốc gia truyền với những lời khuyên quý báu. Bài văn của Nguyễn quân thật chẳng khác một vòng sóng do đôi chân hồng của con thiên nga gây nên. Vòng sóng ân tình kia vừa nổi lên, trăm nghìn vòng sóng khác nổi tiếp, mỗi lúc một nhiều dần và rộng dần… Nhờ vậy mà lòng tôi trở nên vui, sức khỏe của tôi chóng bình phục.

Trước tình cao quí của Nguyễn quân và các bạn xa gần, tôi không biết nói sao cho xiết lòng cảm kích! Tôi bèn soạn một luật ngũ ngôn gởi tặng Nguyễn quân và nhờ cho đăng lên Bách Khoa để tạm gọi là tạ lòng bạn bốn phương:

Ơn lòng

Trống trải ngày ương yếu
Ơn lòng bạn bốn phương
Trang báo niềm an ủi
Hàng thư phương thuốc thang
Thanh thanh tình đọng mật
Trịu trịu nghĩa chia vàng
Ngước mắt nhìn mây thẳm
Bồi hồi gió tịch dương.

Câu chuyện quanh con mắt mù của tôi trở thành một giai thoại nho nhỏ trong vòng thân hữu, và phiến tê giác của Nguyễn quân trở thành vật gia bảo của gia đình tôi, một trong bốn vật báu gọi là Trường Xuyên Tứ Bảo và tôi đã viết một bài ký để truyền cho con cháu biết yêu quí của báu về tinh thần.[3]

*

**


Nguyễn quân và tôi đối với nhau tình rất thâm hậu, nhưng chúng tôi chỉ gần gũi trong xa cách. Từ năm 1966, ngày mới quen nhau, cho đến năm 1975, chúng tôi gặp nhau chỉ có hai lần! Nguyễn quân thì sức yếu không hay đi xa. Còn tôi, thỉnh thoảng có vào Sài Gòn song nghe nói Nguyễn quân rất quí thì giờ và rất sợ khách, nên không tìm đến.

Quí thì giờ là phải, sợ khách là phải: Đời sống thì ngắn, nợ văn chương lại quá nhiều, cặm cụi viết cả ngày mà đống nợ vẫn thấy cao chất ngất… Và nguồn hứng đang tuôn theo dòng bút mà khách đến thì mạch văn bị đứt ngay. Nối lại, sau khi khách ra về, nhiều khi phải tốn nhiều công sức, có khi phải bỏ hẳn đoạn văn viết dở, viết lại cho toàn thiên, toàn chương khỏi thành chiếc áo vá quàng.

Suy ta ra người. Nên thương nhau phải thương cho bạn.

Nhưng khoảng cuối năm 1972, tôi vào Sài Gòn có việc ở ngót mươi hôm, thỉnh thoảng đi ngang qua khu vực Nguyễn quân cư trú. Khoảng đầu xuân 1972 tôi được tin Nguyễn quân té cầu thang, trật gân mất 3 tuần; rồi Bác sĩ bảo động mạch của quân bắt đầu cứng: Artériosclérose. Bệnh đó không trị hết được vì là bệnh già, ngày nào cũng phải uống thuốc cho tới hết đời… Viết thư cho tôi, giọng văn có hơi buồn:
Trong bốn giai đoạn của đạo Phật, tôi đã đến giai đoạn thứ 3: Cũng là thường tình.

Điều này tôi cũng giống ông nữa: Tuổi này tôi thấy lòng mình dịu hẳn xuống, tuy giọt lệ vẫn như sương nhưng tình đối với gia đình, bè bạn có đậm hơn.

Chúng mình vẫn phải viết chứ, không viết thì buồn chịu sao nổi, nhưng lúc nào vui thì viết, không cần cho xong. Như vậy tâm hồn sẽ thơ thái mà chắc còn sống được mươi năm nữa. Chỉ về Long Xuyên nằm dài dưới bóng mận bóng xoài nửa tháng thôi. Mà Long Xuyên bây giờ cũng ồn lắm… (Thư 4/2//972).

Trước khi vào Sài Gòn, tôi nhận được thư của Nguyễn quân:

Tôi được thư của ông non ba tuần rồi mà hôm nay mới hồi âm được, vì năm nay vận hạn, tôi bị cúm nặng, hết diarrhée thì biến chứng ra nấc cục (ho quẹt) cả tuần, suốt ngày và đêm (già mà bị chứng đó, ai cũng ngại); may mà hôm nay đã hết, nhưng khi cơ thể yếu thì các bệnh vặt, cũ nó kế tiếp nhau quấy rầy mình (như bệnh nhức răng, bệnh trĩ), thành thử có bình phục hẳn thì có lẽ cũng phải cả tháng nữa.

Tuổi già buồn thật! Nhất là lúc đau mới thấy cô độc mà mọi sự là phù du hết…

Từ mười mấy năm nay, đứa con trai duy nhất của tôi ờ Pháp. Năm nay nhà tôi lại qua bên đó với nó, có lẽ còn lâu mới về, cho nên trong lúc đau, càng thấy cô đơn. Hình như nhà văn nào cũng cô đơn và không sợ cô đơn, phải vậy không ông?

Chắc tôi phải nghỉ viết vài ba tháng và cũng chỉ viết vài ba năm nữa rồi thôi… (Thư 2/1/11972)

—————-
[1] Tôi chữa xong bệnh glaucome, bị mất ngủ hàng mấy tháng uống thuốc an thần vẫn vô hiệu, mới sắc rễ cây Chùm Bao uống thay trà, chớ không phải uống thuốc nam trị bệnh đau mắt.
[2] Xem bài Trường Xuyên Tứ Bảo trong tập Ghi Dấu Thời Gian đã hoàn chỉnh.
[3] Trường Xuyên Tứ Bảo là bài ký 4 vật báu của T.X. : Tô Văn Trung toàn tập, Lữ Đường di cảo, Nhánh mận khô, Khúc tê giác của Nguyễn Hiến Lê.

Nhớ đến hai bức thư ấy, tôi tự nhủ:

– Lúc này Nguyễn quân đã tạm nghỉ dưỡng sức, không sợ làm mất thì giờ. Lại đương lúc buồn, khách đến chắc vui lắm.

Tôi tìm đến số nhà 12 / 3C, đường Kỳ Đồng.

Tôi đến có hơi trưa. Một người đàn bà trạc ngoại ngũ tuần, phúc hậu, nói giọng Miền Nam, ra tiếp tôi. Tôi xưng tên. Người đàn bà nói:

– Nhà tôi đương tiếp khách trên gác. Khách đến từ khi sáng sớm, chắc cũng sắp ra về. Xin ông chịu phiền đợi cho giây lát.

Tôi ngồi đợi hàng nửa giờ. Biết rằng khách văn chương hễ gặp nhau, câu chuyện khó dứt nửa đường nửa đoạn, tôi bèn xin cáo và hẹn ngày hôm sau. Nữ chủ nhân dặn:

– Xin ông đến sớm sớm, kẻo lại có khách nữa.

Tôi ra về ngẫm nghĩ:

– Sợ khách mà sao khách lại đông quá thế? Vì sợ mà thành đông, hay vì đông cho nên hóa sợ?

Tôi bật cười rồi nghĩ tiếp:

– Trong thư gần đây, Nguyễn quân bảo “nhà tôi sang Pháp… có lẽ còn lâu mới về…”. Vậy bà nào đây mà gọi Nguyễn quân là “nhà tôi”?

Thì ra Nguyễn quân có đến hai phòng. Bà lớn ở Sài Gòn với Nguyễn quân. Bà nhỏ ở Long Xuyên với vườn tược, thỉnh thoảng quân về thăm. Lúc này bà lớn đi vắng, bà nhỏ phải lên Sài Gòn để săn sóc Nguyễn quân. Tôi bụng bảo dạ:

– Có hai vợ kể cũng tiện lợi thật.

Ngày hôm sau, mặt trời chưa lên quá sào, tôi đã đến 12 / 3C Kỳ Đồng.

Nguyễn quân đứng đợi tôi trước cửa phòng khách, cười nói:

Hôm qua tiếp Toan Ánh và Bàng Bá Lân cho đến lúc người nhà mời ăn cơm trưa mới tiễn khách. Tôi không ngờ có ông dưới nhà! Nếu biết thì mời lên gác cùng nói chuyện thì vui biết mấy.

Tôi cũng cười:

– Nói chuyện đến 4 người thì mất thú. Hai hoặc ba là vừa.

Nguyễn quân tiếp tôi nơi phòng khách, rất niềm nở.

Người cũng như văn, giản dị tự nhiên.

Lần này là lần đầu tiên tôi đến với Nguyễn quân.

Thật khác hẳn với lần đầu tiên tôi đến với Đông Hồ ở Yểm Yểm Thư Trang đường Nguyễn Thái Học. Phòng khách rộng mát, không có câu đối, tranh Tàu, đồ cố ngoạn… như nơi Đại ẩn am… Chủ nhân mặc bộ đồ bà ba trắng, chớ không kimono, và đãi khách chỉ có nước trà thơm chớ không có tháp trầm uốn khói, rượu ngâm mai Hà Tiên như Đông Hồ.

Nguyễn quân nhìn tôi nói:

– Ông Kỷ Dậu, tôi Tân Hợi nhỏ thua 2 tuổi, nhưng coi bộ ông khỏe hơn tôi.

Đối với bạn thân tôi hay “cà rỡn”, toan đáp “đó là tại ông làm dân nước Đằng”, nhưng biết rằng tánh Nguyên quân tuy vui mà nghiêm, nên tôi nói:

– Có lẽ nhờ chịu đựng trong 10 năm kháng chiến chống Pháp ở Bình Định.

Nhân câu nói đó, Nguyễn quân yêu cầu tôi kể lại cho nghe những gì tôi đã thấy tận mắt trong 10 năm ở tỉnh nhà. Tôi say sưa kể, quân chăm chú nghe. Câu chuyện đương nồng thì chợt có khách ở Long Xuyên đến. Tôi liền xin cáo.

Nguyễn quân không cản, nói:

– Trước khi về Nha Trang, thế nào cũng đến nói chuyện một lần nữa nhé.

Tôi xin vâng. Nhưng vì bận lo công việc riêng hết cả thì giờ, nên đành thất hẹn. Tôi không áy náy vì biết rằng Nguyễn quân cũng lượng tình mà thể tất.

Lần thứ nhì tôi đến thăm Nguyễn quân vào mùa thu năm 1974.

Lần này không phải không định trước như lần vào cuối năm 1972.

Nguyên khúc tê giác không dùng chế thuốc được, nhà tôi bảo nên hoàn lại cho Nguyễn quân, chớ không nên giữ vì là vật quí. Tôi thân hành mang đi. Gặp tôi, Nguyễn quân hết sức mừng rỡ và nhận thấy tôi quí khúc sừng, quân bảo tôi giữ lấy khi nào cần sẽ “mượn lại”, Quân lại cho tôi biết:

– Phiến tê giác đó của ông bác tôi, cụ Phương Sơn con rể cụ Lương Văn Can, trong Đông Kinh Nghĩa Thục. Khi Nghĩa Thục bị Tây “bổ”, bác tôi trốn vào đây, định qua Xiêm, sau ở lại tại một miền hồi đó rất hẻo lánh ở ven Đồng Tháp Mười, chờ thời, và chờ hoài cả mấy chục năm. Trong khi đó bác tôi làm thuốc (không ăn tiền). Năm nào cũng có vài thầy đồ Quảng Nam Quảng Ngãi đi bán thuốc, biết danh, ghé thăm, ở chơi một vài ngày và có những thuốc gì quí thường dành cho bác tôi. Vì vậy có thể tin được phiến đó không phải là thứ xấu. Và tê giác tôi cũng nghĩ rằng hạ nhiệt vì ngoại cảm thì rất hay, còn hạ được hư hỏa, đúng hơn là bổ được hư hỏa thì không chắc.

Nhưng có thể thử dùng (khi nào ông lại thấy nhức đầu) có hại gì đâu.

Thật là uẩn khúc ân cần! Tôi hết sức cảm động.

Nhân Nguyễn quân nhắc đến ông bác, tôi liên tưởng đến bà ngoại và bà thân sinh Nguyễn quân đã tả trong Cháu Bà Nội Tội Bà Ngoại và trong bài tựa Đồng Tháp Mười, tôi liền tưởng đến bà thân tôi cùng bà nội của nhà tôi, tôi chạnh lòng, nói:

– Ông cũng như tôi, chúng mình mang ơn các cụ bà nhiều hơn các cụ ông.

– Vì chúng mình mồ côi cha sớm.

– Và cũng vì mẹ chịu cực chịu khổ với mình quá nhiều.

Đoạn đọc cho Nguyễn quân nghe hai tập thơ thường lảng vảng bên lòng tôi và tôi muốn chắp nối cho thành bài mà vẫn không được:

Cảnh có núi sông nhiều thú lạ
Đời không cha mẹ ít khi vui.
Đùm bọc nghĩ thương em trẻ dại
Ấm no thêm nhớ mẹ già xưa.

Nguyễn quân nói:

– Tôi thuộc mấy câu đó đã trên 30 năm rồi. Nay mới biết là của ông!

Nhắc đến cha mẹ, Nguyễn quân cũng như tôi đều buồn. Chúng tôi bèn bước sang địa hạt văn chương. Hết Á sang Âu, chuyện tiếp chuyện, lời nói lời. Thời giờ đứng bay đi, cả hai đều không để ý… Chợt tôi thấy Nguyễn quân che miệng ngáp và sắc mặt hơi tái vì mệt. Nhớ trực lại “chủ nhân vừa đau khỏi” nên vội đứng lên xin tạ từ. Nguyễn quân đưa tôi ra tận ngõ ngoài, vui vẻ nói:

– Có vào, nhớ ghé.

Về Nha Trang tôi viết thư vào hỏi thăm sức khỏe. Trong thư có câu “Tôi ba hoa quá! Tôi đi rồi chắc ông phải uống ít nhất là hai thang thuốc bổ mới lại sức”.

Nguyễn quân đáp:

– Gặp ông lần này tôi rất vui vì biết chắc ông sẽ không còn gì đáng lo về con mắt nữa. Hôm đó đưa ông ra cửa rồi, quay vô coi đồng hồ thì đã 12 giờ; không ngờ ngồi nói chuyện lâu như vậy. Có mệt thật, nhưng uống một viên thuốc an thần, trưa đó ngủ được, hết mệt ngay, không tới nỗi phải uống hai thang thuốc bổ như ông ngại… (Thư ngày 22/9/1974).

Sau ngày Bắc Nam thống nhất, tôi thường đến thăm Nguyễn quân, vì có nhiều thì giờ rảnh hơn trước. Đôi khi tôi đưa cả bạn gái đến.

Nhiều bạn bảo tôi:

– Nguyễn Hiến Lê, tâm hồn khô khan lắm. Không thích nói chuyện với đàn bà. Có nhiều nữ sĩ đến thăm bị ông tiếp một cách miễn cưỡng.

Nghe vậy hay vậy thôi. Chớ tiếp xúc với Nguyễn quân, trong văn chương cũng như trong đời thực tiễn, tôi nhận thấy tâm hồn rất phong phú, nhưng tế nhị và kín đáo, mới trông qua hoặc đứng xa mà nhìn thì ngỡ là khô khan. Và không thích tiếp phái nữ vì có lẽ một là không đẹp, hai là đẹp mà ưa làm dáng làm dóc, ưa khoe khoang, hạng “femmes savantes”[1]. Chớ Nguyễn quân thích nghe chuyện tình, vẫn mơ màng khi đọc những đoạn văn tả cảnh tiên nữ tắm nơi Giếng Tiên, nơi Suối Tiên ở Bình Định, Khánh Hòa, dưới bóng trăng khuya, dưới ánh nắng trưa mùa hạ, và vẫn không ghét câu:

Em ơi, chớ chê anh già

Xưa nay gừng quế ai mà dùng non.


Nghĩ vậy nên đưa bạn gái đến thăm Nguyễn quân, lòng tôi không chút e ngại.

Và người bạn gái tôi đưa đến thăm Nguyễn quân là Chức Thành.

Chức Thành, người Bình Định, nhỏ thua tôi 29 tuổi, có nhan sắc, có tâm hồn nghệ sĩ, biết làm thơ và ham đọc văn của Nguyễn quân.

Thành ước ao được gặp Nguyễn quân từ lâu, nhưng mãi năm 1978 mới có dịp.

Vào khoảng đầu tháng 9 năm 1978, tôi đưa Thành vào Sài Gòn chữa bệnh viêm mũi. Công việc xong, tôi đưa đến thăm Nguyễn quân, và được Nguyễn quân đón tiếp mềm nở. Sau mấy lời giới thiệu của tôi, Nguyễn quân cười:

– Gọi sao đây cho hợp tình hợp lẽ? Xin tạm gọi bằng “cô”.

Thành tỏ lòng ngưỡng mộ của mình, cho biết những tác phẩm đã đọc cùng những chương nào những đoạn nào nàng đã đọc thuộc – nàng nói một cách tự nhiên và lễ độ và không hề có một lời hay một cừ chỉ hé cho biết rằng mình cũng có viết văn làm thơ. Nguyễn quân ngồi nghe với vẻ tươi cười nơi môi mắt, và đáp
những câu hỏi của Thành một cách chu đáo dịu dàng.

Câu chuyện mỗi lúc một thêm vui. Nhưng không nỡ để chủ nhân phải uống thuốc an thần một lần nữa vì khách, Thành cùng tôi xin từ giã sau gần một tiếng đồng hồ qua nhanh.

Về nhà Thành bảo cùng tôi:

– Văn Nguyễn Hiến Lê giản dị nhưng tế nhị, sâu sắc. Mới đọc qua tưởng đã hiểu thấu đáo rồi, song nghĩ kỹ thì thấy còn có những ý nghĩa mình chưa nắm vững, chưa nắm hết. Con người họ Nguyễn cũng thế. Em sánh họ Nguyễn như khóm lão mai mọc bên bờ suối, hoa đang nở thạnh. Nhìn trên cành cội, ngó thì rắn rỏi khô khan, nhưng trông không cằn cỗi mà dịu dàng tươi tắn. Nhìn trên không đã thấy đẹp, nhìn dưới nước, hoa theo sóng chập chờn, lung linh phiếu diếu, càng thêm đẹp bội phần. Thật đúng “văn là người”.

Tôi chép lời phê bình của Thành gởi cho Nguyễn quân.

Nguyễn quân đáp:

– Tôi cảm ơn cô Chức Thành đã nhận xét về tôi khá đúng. Một thiếu nữ, năm sáu năm trước đây cũng đã nhận xét y hệt cô ấy. (Tôi nói khá đúng, cơ hồ chỉ đúng một nửa thôi, vì văn tôi được nhiều người ưa bởi dễ hiểu, tự nhiên, nhưng con người tôi lại có một số người không ưa. Anh nhận thấy vậy không? Và tại sao vậy, anh giảng cho tôi nghe được không?) . (Thư 10 và 30 / 9 / 1978).

Tôi có gởi cho Nguyễn quân xem một số thơ của Chức Thành. Nguyễn quân khen “giọng bình dị, chân thành, tình tứ mà đoan trang…”. Nguyễn quân đề nghị
đổi chữ THÀNH là nên, ra chữ THÀNH là thành thật cho hợp với thơ và người của “cô ấy”. (Thư 10 / 9 / 1978).

Một lần khác Nguyễn quân lại nói:

– Lần gặp cô Chức Thành, tôi có cảm tưởng là gặp một người đàn bà hoàn toàn Việt Nam – kín đáo, hơi e lệ, giản dị, thành thực – chứ không phải một nhà thơ. Nay nghe cô ấy bị biết bao “bổn phận” trói buộc, tôi càng quí. Cô ấy có cái LÒNG THƠ – tôi không dùng chữ tâm hồn – Còn lời thơ thì tôi chắc do anh luyện thêm cho?

Tôi nhớ lần đi đưa đám anh Đông Hồ ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Một nữ sĩ trong một thi đàn nào ở Sài Gòn, lên micro đọc điếu văn – hôm đó có vài ba điếu văn – điếu văn độ hai trang thôi, tôi nghe rõ nhưng chẳng nhớ gì vì nó sáo, không cảm động; rồi khi bà ta – khoảng ngoài 40, nét mặt thanh tú, người mảnh khảnh, có vẻ sang trọng theo lối cổ – khi đó bà ta bước xuống lại gần chỗ Hư Chu và tôi đứng, tươi cười hỏi các bạn gái trong thi đàn của bà: “Các chị thấy bài điếu văn của em được không? Tôi ngó Hư Chu mỉm cười. “Vanité des vanités”[2]. Tôi ngán các nữ sĩ thi đàn từ dạo đó.

Tôi có cái tật xấu: đàn bà mà tài hoa thì càng quí nhưng phải thành thực, nhũn nhặn, kín đáo thì mới là có đức, có hương… (Thư 22 / 10 / 1978)

———————

[1] Tiếng Pháp: Những ngươi đàn bà kiêu kỳ.
[2] Đại ý: thói hợm hĩnh của những kẻ hợm hĩnh điếng Pháp

Thái độ của Nguyễn quân đối với phái nữ, tôi nhận xét đúng. Cho nên tôi lại đưa Thành đến hầu chuyện cùng Nguyễn quân lần thứ hai.

Lần thứ hai cũng nhân vào Sài Gòn khám lại bệnh viêm mũi, năm 1979 cách lần trước chừng ½ năm. Lần trước nói chuyện về văn chương. Lần này Thành kể rõ hoàn cảnh của mình cho Nguyễn quân nghe. Nguyễn quân rất cảm động. Nói chuyện đã gần tiếng đồng hồ, chợt người nhà vào thưa có Bàng Bá Lân và Đoàn Thêm đến thăm. Nguyễn quân vội ra cửa xin lỗi đang có “khách viễn phương”, và hẹn chiều sẽ hội kiến. Thành cũng như tôi đều lấy làm ái ngại, Nguyễn quân cười:

– Họ ở gần. Anh và cô Chức Thành ở xa, năm thuở mười thì mới được gặp.

Rồi câu chuyện kéo dài đến 11 giờ trưa.

Từ ấy mỗi lần viết thơ cho tôi, Nguyễn quân đều có hỏi thăm sức khỏe và đời sống của Thành. Biết Thành thường gặp rủi ro trong đời sống, Nguyễn quân an ủi: “Cô ấy gương mặt phúc hậu lắm, không thể nghèo khổ được”.

Vào khoảng đầu tháng 7 năm 1979, chúng tôi lại có dịp đi ngang qua đường Kỳ Đồng. Lúc bấy giờ Nguyễn quân đã dọn về Long Xuyên. Nhưng Thành vẫn bảo tôi cùng ghé vào nhà.

Tứ bề vắng vẻ. Nhưng sân thềm được quét dọn sạch sẽ. Cảnh vật được trận mưa đêm lùa hết bụi bặm. Lá xanh long lanh lóng lánh dưới ánh mặt trời ban mai. Khóm hoa đuôi chồn lắc lư theo chiều gió nhẹ , tung hương khắp bốn bề . Và hai chậu mai chiếu thủy, nở đầy cành, in bóng xuống nước mưa đọng lòng chậu, trông như hai cỗ bồng đơm bánh bằng tuyết. Thành cùng tôi ngồi nơi tam cấp trước cửa phòng khách. Lẳng lặng nhìn vườn kiểng vừa thanh vừa u.

Hồi lâu Thành nói:

– Nguyễn quân về Long Xuyên chắc nhớ Kỳ Đồng đứt ruột.

Tôi đáp:

– Kỳ Đồng đối với Nguyễn quân cũng như Nha Trang đối với tôi. Về Bình Định tôi vẫn tìm được cảnh đẹp thú vui, thì về Long Xuyên Nguyễn quân cũng không đến nỗi buồn tẻ. Tuy nhớ không sao tránh khỏi…

Khi ra về Thành hái một cành hoa chiếu thủy và một nhánh hoa đuôi chồn làm kỷ niệm.

Tôi viết thư vào Long Xuyên cho Nguyễn quân biết. Nguyễn quân đáp:

– Thật không sao ngờ được rằng biết tôi đi vắng mà vẫn tới. Tôi hơi xúc động. Nhớ người và nhớ cảnh. Chỉ có tâm hồn thơ mới vậy. Mà như vậy thì tịch dương ở đâu mà chẳng vô hạn hảo? (Thư Long Xuyên 27 / 7 / 1979).

Mong được Nguyễn quân hiểu rõ thêm Chức Thành, tôi gởi tặng tập Sông Côn Giặt Sợi của Thành mới hoàn chỉnh xong.

Đồng thời tôi lại giới thiệu thêm hai người bạn gái khác của tôi.

+ Liên Tâm, quen thân với tôi năm 1938 và từ giã Nha Trang năm 1940, một đi không trở lại, chỉ để lại cho tôi tập Sợi Tơ Lòng còn tại cảo.

+ Phụng Lữ, tác giả Vị Hoa Đăng, hiện ở Pháp cùng gia đình.

Hai người bạn gái này, cũng như Chức Thành, là mưa xuân nắng thu giúp vườn lòng tôi nở thành hoa chín muồi quả .

Xem xong ba tập thơ, Nguyễn quân cho biết ý kiến:

+ Vị Hoa Đăng quả có giá trị. Thơ thất ngôn luật bà ấy già dặn, bóng bảy, chuốt lắm; thơ ngũ ngôn luật kém một chút, thơ lục bát hay, gây cảm xúc mạnh hơn thơ luật.

Trong Sài Gòn này trước kia có hai ba thi đàn của nữ, đều là các bà sang trọng lớn tuổi. Tôi không làm thơ nên không bao giờ đến đó, nhưng thỉnh thoảng Hư Chu, Đông Hồ có cho nghe thơ của các bà ấy, tôi thấy sáo, kém xa thơ trong Vị Hoa Đăng. Nếu bà Phụng Lữ ở đây chắc không vào mấy thi đàn ấy đâu, vì thơ của họ không có tâm sự, toàn là thơ thù tạc, khoe khéo thôi. Tôi nghĩ xưa cũng như nay, thi đàn nào cũng vậy. Thơ thì phải cá nhân vào một đoàn thể ngâm vịnh với nhau thì hết thơ ra.

Đọc Vị Hoa Đăng, cũng như khi đọc thơ anh, tôi đánh dấu những bài tôi thích, tới cuối tập đọc mấy bài phê bình của anh và mấy nhà khác, thấy đại thể, những chỗ tôi thích thì anh và mấy ông đó cũng thích. Nhưng tôi thích thêm bài Cũng Say, vì giọng bài này khác những bài kia, tưởng như lạc vào tập thơ này vậy. Bài Tạ Từ tôi cũng thích vì lẽ đó. Còn những bài Tâm Sự buồn, hay thì hay nhưng chiếm đến 8, 9 phần 10 tập thơ, quá nhiều… (Thư 6 / 8 / 1978)

+ Thơ Chức Thành không tô chuốt bóng bẩy như thơ Phụng Lữ, nhưng kín đáo, cảm động mà nhã… Nhưng con người mộc mạc cổ lỗ như tôi, quí thơ Chức Thành hơn thơ Phụng Lữ. Nó Việt Nam lắm… Sông Côn Giặt Sợi là một tập Tình sử của hai tâm hồn với nhau, khác hẳn thơ Phụng Lữ, lại càng khác xa thơ cửa các bà trong các thi đàn ở Sài Gòn này hồi trước, cũng khác rất xa các nữ sĩ trẻ kiểu Tuệ Mai, Hoàng Hương Trang v.v… Tôi thấy hạng Chức Thành nay chắc chỉ có vài người. Họ làm cho tôi nhớ lại không khí Tương Phố, Tản Đà… nhưng mới hơn, và nhớ lại không khí thế kỷ XIX ớ Pháp. (Thư 10 và 30/9/1978)

+ Tôi chưa gặp mặt Phụng Lữ, cũng chưa thấy chữ viết, chỉ mới đọc thơ, nhưng tưởng tượng con người ấy trái ngược hẳn với Chức Thành. Chức Thành tôi thấy đôn hậu lắm, gặp lần đầu tôi không ngờ được là thơ hay đâu… (Thư 29/10/1980).

+ Trong số ba bạn thơ của anh, tôi quí bà Liên Tâm cũng bằng mến bà Chức Thành. Thời đó mới tuổi đó mà thơ già dặn như vậy thật là hiếm, Tản Đà khen là phải. Những bài những câu hay nhất trong Sợi Tơ Lòng, anh và các bạn thơ của anh đã trích dẫn gần hết rồi; tôi chỉ nghĩ đến cất thốn tâm của bà ấy thôi. Tấc lòng bà ấy đôi với anh, cũng như tấc lòng cô Chức Thành đằm thắm lắm mà buồn quá! Anh đã trích ra 6 câu lục bát đem vào bài Tựa đấy. Rồi còn tấc lòng trong bài Tăng Biệt (cặp luận), trong bài Hoa Sen nữa (câu 5). Kín đáo, bí mật… Buồn mênh mông. Sâu sắc nhất trong ba người đấy… (Thư l/12/1978).

Thật là lời vàng ngọc. Ba tập thơ được tăng thêm giá biết bao nhiêu?

Nguyễn quân lại bảo:

“Châu Hải Kỳ muốn chép lại thơ tình sử của anh. Hình như anh ấy được biết khá nhiều tình tiết nhưng chắc không đủ: Kể cũng nên chép, vì khá đặc biệt đấy. Thường thì giai nhân chỉ là nguồn hứng của nhà thơ thôi. Ở anh, họ còn là người giúp anh viết, hướng anh về một thể thơ nào đó nữa. Có thể nói là họ gián tiếp hợp tác với anh, còn anh thì có công chỉ bảo, đào tạo họ. Giản Chi, Đông Xuyên, cả Đông Hồ nữa đều không được cái may như anh. Anh nói “Thơ làm sang và làm thọ cho Tình”. Đúng! Nhưng muốn cho người sau thấy vậy thì phải có người chép lại thơ tình sử của anh mới được. . .” (Thư 14 / 1 / 1979)

Tôi hứa cùng anh rằng tôi sẽ tự chép lấy.

Nghe chị Mộng Tuyết nói rằng tôi có đứa con gái làm thơ khá lắm, anh tỏ ý muốn tôi gởi cho anh một ít tác phẩm, để xem “con công có giống lông giống cánh” không.

Đó là Quách Thị Mộng Hoa, bạn thơ của Chức Thành. Cháu có tập Giếng Tường Vi do Mộng Tuyết đề tựa.

Tôi bèn gởi vào tặng Nguyễn quân một bản, Nguyễn quân khen:

“Thơ của cháu Mộng Hoa khác hẳn thơ của Liên Tâm, Chức Thành, Phụng Lữ. Nguồn hứng rất nhiều, thơ cũng nhiều giọng. Hoài cổ có, triết lý nhẹ nhàng có, có lòng phúc hậu, thương người, rồi tình quê, tình yêu thiên nhiên, tình yêu gia đình… Đọc thơ cháu, tôi đoán đời cháu không khổ đâu.

Chịu ảnh hưởng anh: những vần ngũ ngôn. Mà sao lại có giọng của Đông Hồ và Mộng Tuyết cũng khéo lựa những vần có giọng Đông Hồ để giới thiệu ở đầu bài Tựa. Vườn Trăng Thiếu Nữ, Giấc Mơ Trên Sóng, Giã Gạo Đêm Trăng, Chiều Giang Thôn, Vườn Cau, Dưới Mận (Kín đáo nói về anh)… đều là những bài dễ thương cả.

Xin có lời khen cháu và mừng cho anh chị…” (Thư 1 / 12 / 11978).

 

Có nhiều người nhờ tôi đưa tới thăm Nguyễn quân. Trong đó có ông bạn già Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, một ký giả cỡ lớn thời Pháp thuộc, nhưng im hơi lặng tiếng từ ngày Mỹ thay Pháp ở Miền Nam Việt Nam.

Một lần nói chuyện cùng Nguyễn quân tôi có đề cập đến ông bạn già của sông Trà núi Bút. Nguyễn quân cười:

– Tôi chỉ nghe danh bà Bút Trà chủ nhiệm báo Sài Gòn Mới, và bà Nguyễn Đức Nhuận chủ nhiệm tờ Phụ Nữ Tân Văn ngày xưa. Nay lại nghe anh nói đến một ông mang danh hiệu của cả hai bà. Vậy mối liên hệ với nhau như thế nào?

– Ông bạn không có tình nghĩa gì với bà Phụ Nữ Tân Văn. Nhưng lại là chồng bà Sài Gòn Mới. Những bài của bà đăng trên Sài Gòn Mới là của ông viết, ông làm cốt bà làm bì, nên độc giả chỉ thấy bì chớ không thấy cốt, hóa ra trong làng báo hiện đại có Bà Bút Trà chớ không có ông Bút Trà.

Nhận thấy Nguyễn quân không có mỹ cảm với Bút Trà nên tôi không đưa tới. Còn các bạn khác thì tôi tìm cách từ chối, vì làm mối là một trong ngũ bất trí. Phải tránh. Nhưng vẫn không tránh khỏi:

Mùa thu năm 1980, vào Sài Gòn nghe tin Nguyễn quân ở Long Xuyên đã lên Kỳ Đồng, tôi định đến thăm thì gặp Hồ Yêm, một ông bạn cũ xa nhau đã 15 năm mới gặp lại. Họ Hồ thông chữ Hán, giỏi Pháp văn, tuổi đã cổ hi mà còn ham đọc sách. Nhân nói chuyện về các danh sĩ Miền Nam Việt Nam, họ Hồ hết lời ca tụng Nguyễn Hiến Lê và nói: “Vị kiến sinh bình hận bất tiêu”. Tôi cảm động nói:

– Tôi sắp đến thăm Nguyễn quân đây. Anh đi cùng tôi chăng?

Họ Hồ hoan hỷ.

Tôi giới thiệu họ Hồ. Chủ nhân vui vẻ tiếp khách. Bồ chữ gặp bồ chữ, thật xứng kép xứng đào. Tôi chỉ ngồi gõ nhịp. Nhưng chỉ được nửa giờ thuận buồm xuôi gió. Họ Hồ cao hứng để cái Ta nổi dậy, đem văn thơ mình ra thuyết trình thao thao bất tuyệt? Nguyễn quân tỏ vẻ khó chịu, mỗi lúc mỗi thêm rõ rệt, song họ Hồ không lưu tâm. Tôi đâm ngượng, đứng dậy lấy nón:

– Tôi có chút việc gấp, xin cáo hai anh.

Họ Hồ dừng ngay, cũng đứng dậy, nói một cách tự nhiên:

– Đi đôi về chiếc sao cho phải.

Chủ nhân đưa khách ra đến ngõ , và sau khi bắt tay họ Hồ, nói nhỏ với tôi:

– Ba hoa quá! Không có gan tiếp lần thứ hai. Chưa kịp nói gì với anh cả! Anh ở lại được không?

– Hôm nào sẽ đến.

– Về đây trị bệnh, 5 hôm nữa tôi đã phải trở về Long Xuyên.

Tôi vào Sài Gòn có việc. Việc lo xong thì Nguyễn quân không còn ở Kỳ Đồng.

Chúng tôi đành viết thư cho nhau.

***


Nguyễn Hiến Lê cùng tôi quen thân nhau từ 1966, tình mỗi ngày mỗi thêm đậm đà, nhưng vẫn gọi nhau bằng ÔNG. Mãi đến năm 1977, gọi ÔNG nghe sáo quá, mới đổi ÔNG là ANH. Từ ấy thơ gởi cho nhau nhiều hơn. Lắm thư dài đến 4, 5 trang, đem cả những chuyện “bí mật” của lòng ra nói cho nhau nghe mà không thấy ngượng, không chút ngại.

Ở Nha Trang tôi không có bạn. Tôi sống rất cô độc. Mai chiều vui với máy đánh chữ, mỗi tuần một hay hai lần đến trường cinéma xem cảnh vật trên màn bạc, ít quan tâm đến chuyện lớn nhỏ xảy ra ngoài đời. Lại từ 1975 tôi sống ở trong hũ. Cũng nhờ có thơ của Nguyễn quân mà ánh sáng mặt trời mặt trăng thỉnh thoảng đến với tôi.

Anh còn cho tôi biết rất nhiều chẳng những về mặt văn học nghệ thuật, mà còn về mặt kinh tế, xã hội. Nhờ vậy mà kiến thức tôi không đến nỗi mỗi ngày mỗi cằn cỗi và lụi dần, mặc dù sống trong cô quạnh.

***


Nguyễn Hiến Lê là người học rộng, viết nhiều mà lại khiêm tốn, nên có nhiều bạn. Nhưng anh thường nhắc nhở nhất là:

– Đông Hồ,
– Hư Chu,
– Đông Xuyên,
– Giản Chi.

Đông Hồ và Đông Xuyên là chỗ quen biết cũ của tôi song nhờ Nguyễn quân mà tôi biết được thêm về hai nhà thơ ấy. Hai nhà thơ cùng thích nước (Xuyên Hồ) và hướng mặt trời mọc (Đông), nhưng lại không ưa thơ nhau:

“Thơ Đông Hồ càng về già càng trang sức. Văn thắng chất. Nguyễn quân đồng ý và bảo: “Anh có để ý phòng tiếp khách của Đông Hồ ở Yểm Yểm thư trang cũng như ở Quỳnh Lâm Thư Thất trang hoàng nhiều quá không? Tranh Tàu, tranh anh ấy vẽ câu đối, sách vở, bút nghiên… Văn, nhất là thơ anh ấy cũng vậy: dùng rất nhiều chữ thanh nhã, hình ảnh rực rỡ (ít khi độc đáo “Original”), như chiếc áo gấm lam của anh ấy, đầy hoa… Anh bảo anh ấy có cái phong lưu của cẩm nhung, thược dược. Đúng lắm… (Thư 10 / 6 / 1980).

“Đông Xuyên làm thơ tùy hứng, không hay lựa đề tài: Lời thơ lấy tự nhiên làm quí. Có nhiều khi quá dễ dãi, kém “duyên”. Nhưng ít sáo. Không hay dùng chữ Hán, không hay dùng điển. Nguyễn quân thêm: “Đông Xuyên chuyên làm thơ, có lẽ bắt đầu cùng một thời với anh, cũng được Tản Đà khuyến khích ngay từ buổi đầu, nhưng anh ấy có thói không chịu đọc sách, bảo thi nhân cần gì phải đọc nhiều, lại rất oán Thơ Mới, trước kia không bao giờ chịu đọc Thơ Mới (nay hơi ân hận)”. (Thư 28 / 9 / 1980).

Đông Xuyên thích giản dị, Đông Hồ ưng chải chuốt. Tánh không đồng nên không ưa thơ nhau là phải. Tôi thường nói cùng Nguyễn quân:

Thơ Đông Hồ là hoa thược dược. Thơ Đông Xuyên là hoa huệ. Mỗi thứ có mỗi vẻ đẹp riêng. Chẳng những có con mắt thẩm mỹ mà còn phải có tấm lòng thẩm mỹ thì mới hưởng trọn vẹn thú xem hoa. Chớ “Hoa bưởi hoa ngâu hoa lài hoa lý, anh yêu hoa nào hoa ấy là xinh” thì có phần thiên vị quá.

Về Hư Chu, tôi không quen, chỉ biết qua tập Để Hiểu Thơ Đường Luật, muốn giao thiệp lại không rõ địa chỉ. Đến khi Nguyễn quân cho biết Hư Chu là bạn thân thì Chu đã khuất bóng! (1973).

 

Nguyễn quân cho biết: “Hư Chu làm thơ ít nhưng rất kỹ, rất chú trọng đến bố cục và đến nhạc. Thơ có nhiều giọng: mơ mộng, buồn nhẹ, dí dỏm, nghiêm
trang. Thơ đăng rải rác trong các tác phẩm của anh…”. Hồi Hư Chu mới mất Nguyễn quân có lại nhà, hỏi chị Chu về bản thảo của chàng, thì em ấy chẳng biết gì cả. Tụi con thì còn nhỏ! Cho nên Nguyễn quân chỉ còn nhớ toàn thiên, một bài mà anh thích nhất:

Duyên liêu trai

Phòng vắng chưa nằm đầy giấc mơ
Vụng cười chợt tỉnh có đâu ngờ
Nửa trang kỳ sử hồ lay gối
Bán mặt thu phần quỉ đọc thơ
Hẹn một đời sau âu cũng vậy
Tình trăm năm cũ lại bây giờ
Kìa ai dong đuốc xa dần mãi
Eo óc canh gà những ngẩn ngơ.

Trong bốn bạn kể trên, Nguyễn quân thường nhắc đến Giản Chi nhiều nhất:

“Giản Chi học chữ nho tới 15 tuổi, đậu khóa sinh rồi, chuẩn bị thi hương thì thi hương bãi bỏ, mới qua học chữ Pháp, đậu Diplôme mention Bien[1]. Văn thơ Trung Hoa, anh ấy biết nhiều vì thích môn đó, tôi cho rằng trong Nam này không ai hơn. (Ngoài Bắc tôi không biết, nghe nói còn ít cụ 60 tuổi trở lên, nhưng tuổi đó các cụ cũng quên nhiều hoặc lẩm cẩm rồi).

Thật là duyên tiền định mà chúng tôi gặp nhau khoảng 1957-1958. Nhờ biết nhau nên tôi mới khuyến khích, thúc anh ấy viết về Triết Học và Văn Học Trung Quốc, chứ anh ấy chỉ thích sống theo Lão Trang, không kiên nhẫn biên khảo; Và nhờ anh ấy hợp tác mà tôi mới vững tiến vào khu vực Cổ Học Trung Quốc. Nếu không có anh ấy thì tôi đã hướng về công việc khác rồi, chứ không thể kiếm ai để có thể hợp tác về môn đó, mà một mình viết thì e lầm lỗi, nhất là mệt nhọc lắm. Sự hợp tác của chúng tôi thực có lợi. Khi xuất bản cuốn TƯƠNG LAI Ở TRONG TAY TA tôi tặng anh ấy một bản, anh ấy bảo tôi:

– Nhờ đọc cuốn đó của bác mà tôi bỗng hiểu hai câu thơ này của một thi sĩ đời Thanh:

Nhân sự tự sinh kim nhật ý
Hàn hoa chỉ tác khứ niên hương.

Mà anh ấy tự dịch là.:

Ý mới rút từ kinh nghiệm cũ
Mai già lưu lại chút hương xưa.”

(Thư 2 / 5 / 1977).

“Anh ấy ít làm thơ, thơ có nhiều giọng, nhiều thế, bài nào cũng có tâm sự, đa số là buồn, có bài có giọng hùng. Cảm xúc chân thành, hình ảnh có khi mới mẻ và đôi khi dùng những điển tôi không hiểu. Tôi thích thơ anh ấy hơn thơ Đông Xuyên và Đông Hồ. Tôi chẳng biết gì về thơ, cứ theo ý kiến hẹp hòi của tôi mà xét: nói chung tôi thích những bài như bài Tú Xương gởi Phan Sào Nam, bài Thu Điếu của Yên Đổ nhất, bình dị, hàm súc, cảm động, tự nhiên. Nghĩa là tôi chỉ thấy một vài vẻ đẹp của thơ thôi, chứ không nhận định được hết các vẻ, rồi cứ thành thực trình bày với bạn… ” (Thư l/7/1978).

Chính nhờ Nguyễn quân đứng trung gian mà tôi được làm quen rồi trở nên thân với Giản Chi.

Tôi gặp Giản Chi vào hạ tuần tháng 6 năm 1978. Tôi tin cho Nguyễn quân hay.

Anh đáp:

“Cùng một lúc với thư anh, tôi nhận được thư Giản Chi. Giản Chi cũng nhắc đến anh, bảo “người dễ thương lắm, mới gặp lần đầu anh ấy đã xử thân, nói hết tình cảnh gia đình và nỗi niềm tâm sự”.

Anh có đọc cho anh ấy nghe câu “Tịch dương vô hạn hảo. Chỉ thị cận hoàng hôn”. Riêng anh thì hoàng hôn đâu đã cận, còn ở xa, xa lắm nữa. Tôi thấy sức sống của anh mạnh lắm. Tôi nhỏ tuổi hơn cả, kém Giản Chi 6 tuổi mà cơ thể rệu rạo rồi, hóng bét…” (Thư 1 / 7 / 1978).

Khoảng thượng tuần tháng 9/1978, tôi ghé thăm Nguyễn quân, định rủ anh đi thăm Giản Chi, nhưng anh yếu không đi được. Tôi đi một mình, nhưng vì quên mất địa chỉ nên đến Khánh Hội tìm không được phải bứt rứt mà trở về. Về Nha Trang được ít hôm, tôi được thư Nguyễn quân cho biết:

“Anh về được ít ngày thì Giản Chi lại chơi tôi, nói chuyện về anh. Ảnh bảo: “Quách Tấn làm nhiều thơ lắm, bây giờ có giọng Thiền và thành Nhất Gia rồi đấy”. Tôi bảo: “Nhất gia đích thị rồi. Mà văn xuôi anh ấy cũng hay hơn Đông Hồ. Vậy mà danh không bằng Đông Hồ. Tôi cho là tại ảnh kín đáo, ẩn hơn “Đại Ẩn Am” (Anh có biết Đai Ẩn Am là một bút hiệu của Đông Hồ không (Thư l0 / 9 / 1978).

Tôi nhận thấy Nguyễn quân nặng tình với Giản Chi hơn Đông Hồ, Hư Chu, Đông Xuyên. Anh thường cho tôi biết hoàn cảnh gia đình của Giản Chi:

“Giản Chi hết dạy học rồi, vợ đau, con cũng đi cải tạo như con anh, mà bầy cháu cũng đông, cảnh nhà túng thiếu!” (Thư 5 / 7 / 1977).

“Giản Chỉ lúc này lo chạy gạo (mỗi người mỗi tháng chỉ được phát 1 kí, phải mua thêm 7 đồng 1 kí, mà nhà anh ấy 8 miệng ăn). Rên quá. Bảo tôi bao giờ mới sang quẻ Phục? Và cho hay đêm nằm, mơ mơ màng màng, nghĩ được mấy câu thơ, sáng dậy nhớ được 2 câu:

Hạc kiếp thân này tro giả bụi
Thiên đường sắc nó đỏ hay đen?”

(Thư 18 / 8 / 1979).
Nguyễn quân thường tìm cách giúp đỡ bạn về mặt tài chánh:

Năm 1978, biết gia đình Gỉản Chi lâm cảnh quẫn bách, Nguyễn quân tự ý trao cho người con trai Giản Chi một số tiền đủ cho gia đình (8 người) sống được nửa năm. Mấy năm sau, chuyển được tiền gửi Ngân hàng ngoại quốc về, người con trai Giản Chi đem nộp lại một nửa số nợ, thì Nguyễn quân gạt đi, bảo: “Hãy cứ giữ mà tiêu, sau sẽ hay”.

Ngoài ra, tác quyền về bộ Đại Cương Triết Học Trung Quốc đúng ra Nguyễn quân phải được hưởng 6 phần 10, vì số trang Nguyễn quân viết nhiều hơn Giản Chi. Giản Chi yêu cầu anh “phân minh tài bạch”, nhưng anh không chịu “phân minh quá như vậy”. Cảm lòng Nguyễn quân, Giản Chi viết một bài lục bát, vào một đêm giao thừa:

Niềm riêng

Giấc nghèo trằn trọc mơ xưa
Đời Lương Vũ Đế trận mưa hoa vàng…
Sao nay cuộc sống phũ phàng:
Mốc hôi dăm hạt tập tàng vài manh!
Ba mươi nhớ Đức Sinh Thành
Lấy gì báo đáp tấc tình ba xuân?
Nghe đời mình xót thêm thân
Đời, cậu ve vuốt, mình, vần thê lương.
Dòng thơ ngăn ngắt sao sương
Cái qua mất hút càng vương vấn dài…
Đời xuân, hoa chớm nở rồi
Nhớ câu Yến dực mỉm cười Tương Lai…
Thơ này cúi chép trao ai
Trong cơn Dương Cửu vì tôi cắt vàng.

Viết xong xếp đó, chưa dám đưa Nguyễn quân đọc vì e xúc phạm tấm lòng ưa lối “bố thí li tướng” của anh.

Tình của Nguyễn quân và Giản Chi đối với nhau thật là vừa thanh cao vừa tế nhị!

Ngoài bốn người bạn kể trên, Nguyễn quân cũng thường nhắc đến Vương Hồng Sển.
Họ Vương cùng tôi vốn cũng là chỗ quen biết cũ. Nhưng ít giao thiệp với nhau nên tôi chỉ biết là họ Vương ưa đồ cổ và viết nhiều sách khảo cổ. Khoảng thượng tuần tháng 5 năm 1981, Nguyễn quân đưa tôi cùng Bác Sĩ Nguyễn Chấn Hùng đến nhà họ Vương ở số 9/I đường Nguyễn Thiện Thuật, Gia Định: Một ngôi nhà xưa cất theo kiểu Tàu chứa đầy đồ cổ ngoạn và sách vở. Chủ nhân đón tiếp chúng tôi rất niềm nở và có chụp chung với chúng tôi mấy tấm hình, làm kỷ niệm. Sau đó Nguyễn quân có viết cho tôi một bức thư:

Hôm đó dắt anh và bác sĩ Hùng lại thăm Vương mà không kịp báo trước anh ấy hay; biết anh ấy khó tính, sau tôi phải xin lỗi. Nhưng coi bộ anh ấy không thấy bực mình, tôi phải dắt ra, mà anh ấy nói hoài ra tới cửa ra còn giữ lại nói nữa… Ra tới bến xe lam (cách nhà anh ấy độ trăm thước) thì thấy anh vội vàng leo lên xe cyclo đi đâu. Chắc có hẹn gì, mà chúng mình vào làm lỡ hẹn anh ấy.

Quen rất nhiều người, từ các mệ ở Huế tới các quan Tây quan Ta thời trước, các điền chủ, nghệ sĩ… biết rất nhiều về Miền Nam. Cũng như anh ngồi gõ suốt ngày được (làm thẻ địa danh Nam Việt, viết hồi ký) mà không mệt, chống ba toong đi ra Sài Gòn, kiếm mua sách cũ, bọn bán sách cũ thấy cụ tới thì bu lại: “Ba, ba, con kiếm được cuốn sách để ba coi. Họ chém cụ, nhưng cụ vui vẻ, vì có cuốn họ cho là đắt, chớ cụ thấy lại rất rẻ. Con người đó đặc biệt lắm…
(Thư 24 / 6 / 1981)

Họ Vương từ ngày gặp mặt trở về sau, thỉnh thoảng có gởi thư cho tôi, và có tặng tôi một bộ sách khảo cổ gồm 7 tập, của Vương soạn, rất có giá trị. Gặp Nguyễn quân, Vương cũng thường hỏi thăm tin tức về tôi.

***


Trong các bạn thân, Vương Hồng Sển là người thường đến cùng Nguyễn Hiến Lê hơn hết. Mỗi lần đến là nói chuyện cả buổi. Nguyễn quân nói:

– Anh ấy lớn hơn tôi đến 10 tuổi mà sức khỏe hơn tôi nhiều. Cặp phổi cũng rất tốt, nói chuyện luôn hơi không nghỉ. Nhiều khi tôi phải xin phép nằm lắng tai…

Họ Vương không thấy có bút hiệu.

Bút hiệu Nguyễn quân là Lộc Đình. Nhưng trong làng cầm bút lại ít người biết hiệu của Nguyễn quân, cũng như ít biết tên của Đông Hồ, Đông Xuyên, Hư Chu, Giản Chi.
Đông Hồ và Vương Hồng Sển là người Miền Nam.

Đông Xuyên, Hư Chu, Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê là người Miền Bắc.

***


Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê, người Sơn Tây, tuổi Tân Hợi (1911).

Năm 1934, sau khi tốt nghiệp trường Công Chánh, Lộc Đình được bổ vào làm việc ở Miền Nam. Anh đi đo đạc khắp các miền ở Tiền Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp Mười và thường sống với ông bác là cụ Phương Sơn, một chiến sĩ sống sót của Đông Kinh Nghĩa Thục, ở Long Xuyên.

Đến ngày toàn dân nổi dậy chống Pháp (1945), anh thôi việc, lên Sài Gòn ở và chuyên nghề viết văn.

Anh là người có khí tiết. Không ham danh, không ham lợi. Đời sống thanh cao, phong nhã.

Trong 10 năm kháng chiến chống Pháp, anh không nhận một chức vụ gì của Thực dân. Trong 20 năm dưới chế độ Việt Mỹ, anh cũng không hề cộng tác với Hoa Kỳ hay Chánh phủ Cộng hòa.

Một hôm, Trung tướng Nguyễn Bảo Trị, tổng trưởng Bộ Dân Vận, sai một viên Đại tá tùy viên cầm một phong thư đến nhà Nguyễn quân. Anh hỏi viên Đại tá: “Trong thư nói việc gì?”. Viên Đại tá thật tình nói rằng “Trung tướng mời ra cộng tác.” Anh không mở thư, lễ phép nhờ viên Đại tá đem về hoàn lại cho Trung tướng.

Tổng thống Thiệu muốn tỏ rằng mình là người quí trọng văn nghệ sĩ, mỗi năm phát phần thưởng một triệu đồng cho một văn sĩ hoặc một thi sĩ có nhiều tác phẩm đã xuất bản hay còn tại cảo. Năm đầu tiên, Nguyễn quân được chọn, nhưng anh tìm cách bắn tin trước khi có quyết định của Chánh quyền, rằng anh không nhận. Sau phần thường trao cho Vũ Hoàng Chương.

Còn nhiều việc khác nữa, nhưng đó là hai trường hợp tiêu biểu đã trở thành giai thoại trong giới trí thức Miền Nam Việt Nam dưới thời Việt Mỹ.

Anh viết văn “để sống”. Nhưng để sống bên phần xác là phụ. (Mà ở Việt Nam, từ xưa đến nay có nhà văn nhà thơ nào nhờ tiền nhuận bút, nhờ tiền bán tác phẩm, xuất bản tác phẩm mà nuôi bản thân nuôi gia đình được sung túc?).

Anh viết văn cốt để đem sở học và kinh nghiệm ra giúp cho đoàn hậu tiến. Nhưng gần đây anh có phần chán nản:

Trong bức thư gởi cho tôi ngày 24 / 6 / 1981, anh nói:

– Tất cả cuộc đời của tôi có thể tóm tắt trong hàng chữ này: “Học và viết. Viết để học và học để viết”. Tôi không thích chơi cờ, đánh bài, ít thích hát hỏng, cải lương (chỉ film nào có ý nghĩa tôi mới coi) không có tai thẩm âm, không biết chơi nhạc, không thèm ăn ngon nữa (vì ba chục năm nay bộ tiêu hóa trục trặc), không biết làm thơ nên không biết cái duyên của các nàng thơ như anh, mà các nàng cũng ghét thử lý luận nghiêm trang khô khan (con người cũng khô khan) của tôi nữa. Chỉ còn thích thiên nhiên, cảnh đẹp, thích hoa thơm, vài thứ thôi và thích sách hay mà sách hay thì thật hiếm… Vì vậy chỉ còn cách cắm cổ “Viết như cái máy” (lời độc giả), không thích viết thì cũng phải viết rồi nó sẽ thích – Cũng như anh, tôi VIẾT ĐỂ SỐNG (nhất là lúc này), nhưng anh có nhận thấy rằng mình viết cốt để sống, rốt cuộc là-mình viết suốt đời suốt ngày suốt năm, quanh năm, và thành ra SỐNG ĐỂ VIẾT, vì ngoài ra, có để tìm một cái thú gì khác đâu? Không phải để cầu danh, không phải để làm giàu. Tôi đã ba lần gạt bỏ những cơ hội làm giàu, đã 9 lần gạt bỏ cái danh hão mà người ta tặng tôi. Vậy thì tôi sống rõ ràng là chỉ để viết thôi. Phải không anh? Anh ra sao tôi không biết, có lẽ anh sống còn để hưởng thụ cái gì đó nữa không giống hẳn tôi. Mà như vậy tôi mừng cho anh. Tôi thấy con người Đông Hồ hơi phức tạp. Anh ấy lấy bút hiệu là Đại Ẩn Am, nhưng nhiều lúc anh lại thích paraitre[2]. Cơ quan Văn hóa nào họp thì anh cũng vui vẻ dự. Cái vụ vào dinh Độc lập ăn tết cũng vậy, Cụ còn xin một nhánh đào đem về cắm nữa chứ, làm cho người ta chạy nhốn nháo đi tìm cái cưa để cưa cho cụ một cành! Hay tin tôi chỉ mỉm cười: Ai mà chẳng có những faiblesse[3] như vậy. Tôi vẫn thấy anh dễ thương. Thật tình với bạn bè lắm. Và biết giá trị con người. Tết đó người ta cũng mời tôi dự mà tôi chỉ thấy mệt thôi, nên nằm nhà. Tôi cho sống thì nên có một hướng nhất định, một lập trường vững…”

***

Anh có bệnh thật.

Nhưng đâu phải mới có. Bệnh đối với con người văn chương của anh, chẳng khác gì cỏ đồng đối với lúa. Nhiều chứng bệnh theo quấy rầy anh. Những chứng
bệnh ấy do “bộ tiêu hóa trục trặc ba mươi năm nay” mà ra. Không năm nào anh được hoàn toàn mạnh khỏe.

Anh có hai phòng: Bà cưới trước họ Trịnh, có một người con trai duy nhất, bà cưới sau họ Nguyễn không con. Bà họ Trịnh ở Sài Gòn với anh. Bà họ Nguyễn ở Long Xuyên. Năm 1972 bà họ Trịnh sang Pháp thăm con trai và cháu nội (người con trai ở Pháp đã 20 năm rồi), tính qua một tháng rồi về, nhưng gặp việc không vui trong gia đình người con, phải ở nán lại giúp đỡ con cháu (cháu đứa lớn 6 tuổi, đứa nhỏ 1 tuổi). Bà họ Nguyễn phải lên Sài Gòn săn sóc chồng, cũng tưởng trong vòng một tháng rồi về Long Xuyên được, không dè phải ở nán lại… Rồi cuộc thế đổi thay, bà họ Trịnh không trở về Việt Nam được! Bà họ Nguyễn phải ở lại Sài Gòn với anh.

Thấm thoát đã 8 năm trời!

Không lẽ cứ bắt bà ấy – anh nói – ở đây để chỉ lo cơm nước cho tôi mãi. Năm nay, bà ấy đã ngoài 70, phải cho bà ấy nghỉ, về quê hương hưởng phần ít năm trước khi chết chứ. Về Long Xuyên có họ hàng con (con nuôi) cháu, có bà chị dâu, vừa đông đủ vui vẻ vừa có người sai bảo, giúp đỡ; ở trên này có ai đâu!

Cho nên đầu năm 1980, anh dọn về Long Xuyên với chị. Còn giữ hộ khẩu ở Sài Gòn. Nhà ở đường Kỳ Đồng giao cho một đứa cháu làm công nhân viên coi giùm. Mỗi năm anh lên Sài Gòn 2 lần, mỗi lần ở chừng 1 tháng. Chị họ Nguyễn cũng phải theo săn sóc chồng, bởi anh lên Sài Gòn thường thường chỉ để chữa bệnh!

Anh không được mạnh khỏe, song không nghỉ viết.

———————–

[1] Bằng Thành chung, hạng bình

[2] Xuất hiện (tiếng Pháp)

[3] Yếu đuối (tiếng Pháp)

Từ 1975 trở về trước, anh đã hoàn thành trên trăm tác phẩm, phần nhiều đã hành thế. Từ 1975 anh viết thêm được số nữa. Cuối tháng 8/1980 anh viết xong tập Hồi Ký dày 700 trang.

Về tập hồi ký, anh nói:

– Viết không hứng thú chút nào cả. Tôi lại quá tham lam, thêm nhiều mục về tình hình xã hội trước 1945, hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ của mình… rồi chuyện nhà, chuyện viết văn… tất cả xen kẽ nhau, chẳng ra hình thức gì hết. Nhớ tới đâu viết tới đấy, viết tới phần sau mới nhớ lại một vài việc phải thêm vô phần trước, thêm hoài đặc cả lề, phải dán thêm “cánh bướm” vào; bây giờ vẫn mỗi ngày mỗi thêm trong khi sửa lại. Như vậy người ngoài đọc chắc khó khăn, mà chép lại thì tôi không đủ kiên nhẫn. Với lại chủ ý của tôi chỉ là để cho vợ con đọc thôi; thêm hai đứa cháu nữa để chúng biết qua về thời đại trước, khi chúng chưa sinh.

Thân thế và sự nghiệp văn chương của anh, chưa có sách báo nào viết.

Nguyễn Ngu Ý đã giới thiệu anh trên tạp chí nào đó tôi quên mất, nhưng quá sơ sài.

Khoảng đầu thập niên 70, Châu Hải Kỳ ở Nha Trang đã ra công đọc kỹ tất cả các tác phẩm đã xuất bản của anh, và viết tập truyện ký về anh dày trên 300 trang. Sách đã hoàn chỉnh trước ngày Bắc Nam thống nhất và đã gởi đến anh rồi. Mặc dù Châu Hải Kỳ cùng tôi ở gần nhau và thường qua lại với nhau, song không thấy Kỳ hỏi tôi điều gì về Nguyễn quân, tôi lại không được xem qua tập văn của Kỳ, nên không khỏi e ngại rằng “chưa vẽ được chân dung của Nguyễn quân”.

Nguyễn quân nói:

– Châu Hải Kỳ đọc tôi rất kỹ, đối với tôi rất chân tình. Tập anh ấy biết về tôi, có bốn năm người đọc rồi, ai cũng khen là có công mà người nào cũng nhận xét như anh: chưa vẽ được chân dung của tôi.

Làm sao vẽ được anh ôi! Anh ấy vào đây, gặp tôi có hai buổi, hỏi tôi về gia thế, gia đình, ghi ghi chép chép hết ngày giờ rồi, ăn với tôi mỗi một bữa cơm, biết nhiều về tôi sao được. Văn anh ấy cũng không bằng văn Nguyễn Hữu Ngư.

Châu Hải Kỳ không được ở gần tôi mà cũng không được đọc correspondances[1] của tôi… Chính trong thư gởi cho nhau, chúng mình mới thật thà thành thực tỏ nỗi lòng của mình. André Maurois viết tiểu sử V. Hugo, Balzac, G. Sand, nổi danh là không ai viết bằng, chính là nhờ đọc correspondances của mấy nhà đó, chớ đâu có nhờ đọc tác phẩm của họ. (Thư l0/6/1980).

Về thư, anh cho biết từ 1967, 1968 cho đến 1980 của bạn gởi đến, nhiều quá, bỏ bớt đi từng xấp, chỉ giữ lại thư của bạn văn và một số rất ít của độc giả… Trung bình mỗi tháng anh nhận được non 30 bức, trả lời trên 20 bức. Không đốt đi thì chỗ đâu mà chứa? Trong số thư của bạn văn, xấp của tôi vào hàng dày nhất. Thư Châu Hải Kỳ ít hơn… Thư của tôi, nhiều bức được anh khen là hay, văn có nhiều giọng, ý tưởng có nhiều nét độc đáo. Anh nói:

– Bức thư đầu năm (14/3/1980) của anh dài mà hay, vui mà lẫn buồn, lời đẹp mà ý khoáng đạt. Tôi đọc 2 lần, nghĩ bụng sau mình không còn thấy những bức thư như vậy nữa đâu. Các thế hệ sau dù ở Đông hay ở Tây, không thể có tâm trạng như chúng mình, họ bặm môi hùng hục với ý thức hệ hoặc quay cuồng điêu đứng với vật chất. Rồi tôi lại nghĩ những bức thư của bọn mình giá để lại được thì họ cũng liệng đi, coi làm quái gì. May ra có được vài kẻ muốn tìm dấu vết của thời cũ, kiếm những bức thư như thư của mình.. (Thư 4 / 4 / 1980).

Nhưng rồi lại nói:

– Mình chết rồi, 30 năm sau chắc có người còn nhớ tụi mình. Tôi nghĩ lúc đó thời cuộc tất thay đổi, và họ được đọc những thư mình trao đổi với nhau sẽ thú lắm, sẽ hiểu mình hơn là đọc thơ của anh, văn của tôi. (Thư 10 / 6 / 1980).

Tôi cũng nghĩ như Nguyên quân. Cho nên thư anh gởi cho tôi cũng như tôi gởi cho anh đều giữ cẩn thận và sắp xếp theo thứ tự thời gian. Thư của chúng tôi trao đổi cho nhau, ít nói đến thời sự, mà thường nói về tâm sự và văn chương. Nhờ vậy mà ít bị thất lạc.

***

Từ 1975 đến 1988, tôi sáng tác thêm được 4 tập thơ và 5 tập văn xuôi.

Trong 9 tác phẩm ấy, Lộc Đình để ý đến tập biên khảo về Luật Thơ Đường nhiều nhất.

Đọc xong Luật Thơ Đường, anh liền cho biết rằng là viết có công phu, song quá tỉ mỉ, có khi rắc rối, dễ làm nản lòng người mới học làm thơ. Anh đề nghị rút ngắn lại, bỏ bớt những điểm rườm rà, không cần thiết, sửa cho tác phẩm nhẹ bớt đi, dễ hiểu, dễ nhớ hơn.

Nửa tháng sau, anh đọc kỹ lại một lần nữa, rồi viết thư cho tôi:

– Tôi nghĩ lại:

Anh viết tập này không phải cho người mới học làm thơ vì đọc anh họ không hiểu hết mà lại sinh nản như tôi đã nói.

Anh viết chỉ là để làm cái việc “bàn giao” như các nhà nho trong Nam Phong 60 năm trước. Chắc anh còn nhớ thời đó các cụ Phan Kế Bính, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đỗ Mục v.v… cho rằng thời đã thay đổi, bọn trẻ sẽ bỏ luôn cổ học Trung Hoa, sẽ không biết gì về văn học, triết học Trung Hoa, cho nên các cụ tự gánh trách nhiệm đem những kiến thức của mình diễn ra bằng chữ Quốc Ngữ, để bọn trẻ sau này đọc được; công việc đó là công việc “bàn giao” văn minh cũ cho tụi tân học. Các cụ đã gắng sức làm nhưng làm không có kế hoạch, tổ chức, nên trong 10, 15 năm chưa được bao nhiêu: Việt Hán Văn Khảo của Phan Kế Bính (rất giản lược), ít thơ Đường ít cổ văn, dăm bộ truyện Tàu, bộ Mạnh Tử, Luận Ngữ… Rồi cụ Bùi Kỷ tiếp tục: Quốc Văn Cụ Thể nhưng cũng rất sơ lược, về thơ Đường luật được có mấy trang, phiên âm Truyện Kiều, Lục Súc Tranh Công… Sau tới cụ Trần Trọng Kim mới soạn bộ Nho Giáo có giá trị nhất (ngay các cụ cựu học cũng không thể làm bằng, chớ đừng nói là hơn)… Nhưng cụ Trần đã thuộc lớp nửa cũ nửa mới rồi. Ngô Tất Tố, Nhượng Tống, hơi cựu mà cũng hơi tân, cũng góp được ít nhiều công việc về triết học, văn học Trung Hoa. Về thơ Luật đến bây giờ vẫn chưa có ai “bàn giao” cho bọn tân học, ngoài cuốn Để hiểu Thơ Đường Luật của Hư Chu, đọc vui nhưng còn thiếu sót nhiều (Tôi không được đọc cuốn của Lam Giang Khảo luận Luật Thơ, không biết giá trị ra sao).

Anh là người đầu tiên xét rành rọt, rất kỹ, đủ về thuật làm thơ Luật, như vậy là tiếp tục công việc bàn giao của các nhà trong Nam Phong. Tôi chắc các cụ ấy còn sống cũng phải nhận rằng các cụ viết không hơn anh được, vì không ai chuyên về thơ Luật như anh, kể cả Tản Đà.

Nghĩ vậy, tôi cho rằng phải đọc tập Đường Luật với cặp mắt khác, không phải của người muốn học làm thơ luật, mà của người muốn hiểu một di sản của cố nhân để lại. Sẽ không còn ai làm thơ Luật nữa đâu, sau thế hệ của anh (Con anh cũng bỏ nó rồi); nhưng sẽ có một số người tò mò đọc thơ luật và muốn hiểu cái hay của nó ở đâu, làm sao đạt được cái hay đó, cái dở của nó ở đâu… Và họ sẽ đọc tác phẩm của anh. Giá trị tác phẩm của anh ở đó.

Nếu anh viết tiếp tập II về thơ Đường, thơ Tống, thơ Thanh nữa, thì công trình này của anh chỉ kém một ngàn bài thơ luật của anh thôi, chứ hơn hẳn tất cả các tác phẩm văn xuôi, kể cả hai bộ Nước Non Bình Đinh, Xứ Trầm Hương.

Và đọc lại lần nữa với tinh thần đó, đọc xong tôi thấy những điều tôi đề nghị anh sửa, bỏ trước đây, trái lại nên giữ hết, không bỏ một chút gì, càng nhiều càng tốt bức vẽ càng đủ chi tiết càng rối ren, rườm, càng đúng sự thực, càng quí.

(Thư 10 / 1 / 1981).

 

Nghe lời anh, tôi không sửa bỏ gì hết. Nhưng sức khỏe sút giảm nhiều quá, “không làm được việc nặng”, tôi bèn đọc lại Luật Thơ Đường, bỏ những chỗ thừa, thêm đôi chỗ thiếu, soạn thành tập Luật Thơ sơ Yếu chỉ dày 54 trang pelure đánh máy, bằng một phần ba tập Luật Thơ Đường (147 trang). Soạn xong xếp chung 2 tập lại, gói kỹ lại chờ thiện duyên.

Hai tập thi thoại Hứng Phấn Nâng Hương của tôi cũng được anh đọc kỹ và khen là “viết công phu và rất bổ ích cho người muốn hiểu thơ Hàn luật của mình từ mấy thế kỷ nay, giúp cả cho người muốn làm thơ Luật nữa. Nó bổ túc cuốn Luật Thơ Đường…”.

Anh lại nói:

– Ở nước mình, chưa ai có công nghiên cứu thơ Luật, giới thiệu, phê bình thơ Luật Nôm như anh, mà sau này cũng sẽ không có ai nữa. Ngoài ra anh có công giới thiệu quê hương của anh (Bình Định, và Khánh Hòa quê hương thứ hai) cho Quốc Dân: giới thiệu kỹ từ phong cảnh, danh nhân tới thi ca, ca dao… Đó là hai công lớn của anh, cũng như Đông Hồ có hai công lớn: Phụng sự Việt Ngữ, thúc đẩy người ta trau dồi Việt Ngữ từ 1924-1925; làm cho văn xuôi Miền Nam hóa thanh nhã, “có văn”, như văn xuôi Miền Bắc. (So sánh văn anh ấy viết từ 1925 với văn các cây bút đương thời, như Nguyễn Chánh Sắc… thì thấy một trời một vực);
Anh ấy có công lớn với Hà Tiên… Đông Hồ và anh phải có một địa vị cao trong Văn Học Sử, nếu tác phẩm của anh in hết được. Không in hết được thì cũng có một địa vị đặc biệt rồi… Hứng Phấn Nâng Hương có nhiều bài đọc thú lắm…

(Thư 25 / 1 / 1983).

Lộc Đình không làm thơ và không thích thơ Luật bằng thơ lục bát, song biết tôi “nịch ái” nên thường đem bàn với tôi:

– Trong những lúc nằm võng, tôi nghĩ liên miên. Thơ Luật bằng tiếng Nôm do Nguyễn Thuyên đời Trần làm trước hết. Hồi đó là thế kỷ 13 hay 14. Tôi đoán là cuối thế kỷ này nó sẽ chết. Như vậy là thọ được 6, 7 thế kỷ.
Trần Trọng Kim, khi Nho giáo tàn tạ rồi mới “vẽ lại cái bản đồ” của nó. Thơ Luật cũng tới lúc hấp hối mới có người viết kỹ để chỉ cách làm nó, tức anh (Hư Chu không viết kỹ, đủ như anh). Anh có công với nó cũng như Trần Trọng Kim với Nho giáo. Và tôi viết cho Gián Chi, bảo thơ Nôm Luật bắt đầu từ Nguyễn Thuyên, tận cùng với Trường Xuyên… (Thư 22 / 4 / 1984)

Từ 1932 phong trào Thơ mới nổi dậy đánh đổ thơ Đường Luật, những nhà phê bình thơ cũng như những người ham thơ, hễ nói đến thơ Luật cũng như Luật thơ, phần đông đều có giọng mỉa mai kỳ thị. Tôi chưa gặp được người nào nhận xét, phê phán công bình và thấu đáo như Lộc Đình, trong bộ Trung Quốc Văn Học Sử cũng như trong những bức thư gởi cho tôi.

Công minh. Đó là một đức nữa của Lộc Đình.

Từ năm 1983, Lộc Đình yếu dần, chữ viết đã run, giọng như đượm buồn nản.

Anh nói:

Anh, anh Giản Chi, anh Đông Xuyên nữa thuộc về người lớp cổ, viết thư cho bạn mà rất nắn nót, thận trọng (tôi không biết mỗi bức thư 2 trang lớn, anh viết mất mấy giờ?). Vương Hồng Sen viết cho tôi đều dùng máy đánh chữ và thư nào cũng chỉ có một trang lớn trên 30 hàng thôi. Thư nào, câu cuối chúc tôi cũng viết tay và ký tay. Đông Hồ với tôi thuộc vào lớp sau, ẩu, cứ viết phứa đi. Tôi, đầu thư còn viết chậm chậm, được hai trang rồi, mỏi lưng, ngoáy cho mau xong. Đông Hồ thì luôn luôn nằm mà viết, viết rất tháu, cho nên khó đọc nhất.

Trong thư phần lớn nói chuyện văn chương, thỉnh thoảng nói qua đôi nét về cánh sánh hoạt của đồng bào chung quanh mình: “Trời u ám, mưa vài hột, mưa đầu năm. Cây nính – trước nhà lá rụng nhiều rồi, bắt đều ra lá non: Lại có một gia đình cô giáo tới quét. Củi năm nay đắt quá; gấp đôi năm ngoái, lá nính lại càng quí”; “Rác đổ đống bên đường, mùi hôi nực nồng, một ông già, một đứa bé ngày ngày đến bơi rác nhặt những bao ni lông, những mảnh đồ vụn… “, “Một người bà con khoảng 50 tuổi, bị thất bại ở vùng kinh tế mới Sông Bé, về ở gần thị trấn Long Xuyên, làm ruộng, nuôi heo gà. Nhà ở giữa đồng, cách lộ 5, 6 trăm thước, đi trên bờ ruộng đất sét mấp mô, trơn như trên sông trâu. Cái chòi một mái chỉ có 6 thước vuông, một cái giường, một cái võng. Mẹ và con ngủ trên giường, chồng ngủ võng. Dưới gầm thường là một con heo lớn, một con heo con, chung quanh thường là một bầy gà. Không có bếp, cầu tiêu, nước uống là nước trong cái hầm đào để đắp nền nhà. Họ ước: “Tụi tôi không còn mong gì khác là nuôi con cho chóng lớn lên làm công nhân viên được mười mấy ký gạo mỗi tháng thôi”; Năm nay Long Xuyên mất mùa xoài. Vườn tôi có ba gốc, mỗi năm mỗi gốc trung bình từ 150 đến 200 trái, mà có trái hai đợt, đợt sau ít sai hơn. Năm nay chỉ có một đợt mà cây nhiều nhất được 60, 70 trái, còn hai cây kia chỉ 30, 40 trái. Cho nên xoài mắc ghê gớm một trái xoài cát lớn giá 30 đồng (tức 15.000 đồng bạc cũ)! Vậy mà người ta vẫn mua để cúng! Họ làm cách nào mà có nhiều tiền vậy?”. Vân vân…

Trong thư, anh cũng thường than về cảnh gia đình:

Suốt mấy năm nay, nhất là từ đầu năm 1988, hết người này đau đến người kia đau. Chị Lộc Đình khi không huyết áp từ 12 (maximum) nhảy vọt lên 18 rồi 22? Cả nhà hoảng hồn. Ba ngày sau mới bình thường trở lại. Rồi một đứa cháu bị sốt xuất huyết hơn một tuần, may mà nhẹ, chỉ tốn 2.500 đồng bạc thuốc thôi. Chị ở bên Pháp thì từ 1982 chỉ lo trị mắt: mổ cataracte rồi thì mổ glaucome, hết glaucome lại sanh một bệnh kỳ dị: cornée ở mắt sưng, phải lại Banque des yeux xin một con mắt, lấy cornée của nó làm greffe vào mắt người, tốn kém không bao! Còn anh thì hai tháng liên tiếp, các bệnh vặt cứ thay phiên nhau xuất hiện: Cảm, ho, tức ngực, tiêu chảy, bón, mất ngủ… Hết rồi, trở… Cứ ăn cơm được vài ngày thì lại phải ăn cháo vài ba ngày, ít khi yên ổn được vài tuần…

Tôi gặp cảnh không vui, anh Giản Chi khuyên tôi nên hư tâm tiếp vật. Tôi khuyên lại anh Lộc Đình. Anh nói:

Lời khuyên đó rất đúng. Nhưng anh ra sao chứ tôi thấy chỉ hư tâm được một lúc thôi, rồi lại bị vật nó làm cho mình bận tâm. Mình không phải hạng người tu hành được. Nhưng lúc viết thư này là hư tâm đấy (Thư 1 / 10 / 1983).

Khoảng cuối năm 1983, anh có được một nguồn vui: Chị bên Pháp về thăm anh sau 12 năm xa cách. Anh ở Long Xuyên lên Sài Gòn sống với chị. Nhưng chị chỉ được phép về Việt Nam có một tháng! Sau khi đưa chị trở lại Pans, viết thư cho tôi anh than:

– Không biết bao giờ mới về thăm tôi nữa!

Lời than nhẹ nhàng trong bức thư báo tin ngắn gọn làm rung động lòng tôi đến ứa nước mắt! Nghĩa vợ chồng! Cảnh sanh ly!

***

Chị Lộc Đình sang Paris, anh trở về Long Xuyên.
Tết Giáp Tý, nhằm tiết Tiểu hàn, lạnh đến 21 độ. Anh đóng cửa không tiếp khách, nằm đọc tập thi tuyển Móc Đọng Tàu Cau của tôi. Rồi viết thư cho tôi biết ý kiến:

– Tôi đọc hai lần bài Tựa của anh vì nó hợp ý tôi quá. Năm năm trước tôi cũng làm công việc anh làm: lựa những bài văn của tôi mà tôi thích. Lựa xong, chép 2 bản, rồi cho một ông bạn hay (chứ không đưa cho anh ta coi). Tập đó nhan đề là ĐỂ TÔI ĐỌC LẠI. Anh bạn hỏi: Sao không đề là Văn Tuyển của Nguyễn Hiến Lê (do chính tác giả tuyển)? Tôi cũng đáp lại đai ý như anh: Trong số những bài tuyển có nhiều bài chẳng hay gì nhưng tôi thích thì tôi chép lại để tôi đọc lại. Chứ hy vọng gì in được mà mong có độc giả. Vả lại, bài tôi thích không chắc độc giả đã thích; mỗi độc giả có một sở thích riêng nữa; mà chính tôi, lúc này tôi thích, lúc khác tôi lại không thích; thế thì gọi là văn tuyển sao được.

Một điểm nữa giống anh: anh sắp theo thứ tự thời gian, tôi cũng vậy.

***

Anh đã biết tôi rồi: tôi đọc ít thơ Luật lắm, không làm thơ cũng chẳng nhớ Luật thơ, càng không thích những luật chi li, gò bó của thơ, cho nên đọc thơ luật cũng như đọc các thể thơ khác, hễ bình dị, chân thành, cảm xúc được là tôi quí. Tôi lại dốt điển, rất sợ những điển ít thông dụng, thành thử công việc nhận định thơ anh, anh Giản Chi làm thì hợp nhất. Tôi xin anh coi những hàng chép dưới đây chỉ được mỗi một điều là chân thành thôi.

Như tôi đã có lần thưa, những bài thơ của anh mà tôi thích là những bài giản dị, tự nhiên mà cảm xúc mạnh, như bài Về thăm nhà Cảm tác, Canh khuya, Tỉnh giấc, Đá Vọng Phu, Lữ Cảm, Đêm Thu nghe Quạ kêu, Ông Thích Chi, Trời Đông, Trơ Trọi…

Từ thời kháng chiến, thơ anh xét chung, bình dị hơn thời trước có lẽ vì thời cuộc. Tôi thích Lánh cư, Tản cư, 4 câu đầu bài Lữ Thứ, Rừng Phú Nhiêu, Đồi An Lão, Nhớ Tản Đà, Xí xóa, Đìu hiu, Cảm tác, Đăng Quang, Gươm Mài Hận, Đêm giường bệnh, Tướng Tá , Viếng Lăng Mai Xuân Thưởng, vân vân…

Thời thống nhất đại khái cũng như thời trên. Nhiều tâm sự. Cảm động, buồn man mác. Nhưng chắc anh đã bỏ nhiều bài? Chỉ bài cuối là vui… (Thư 14/2/1984).

Đọc xong Móc đọng Tàu Cau của tôi rồi anh đọc sang Tình Sử.

Đọc bài Đề Tích Sở Kiến Xứ của Thôi Hộ:

Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong

Anh chép bài dịch của Phan Thế Roanh trong Điển Cố xuất bản năm 1954, và bài dịch của Hư Chu trong Tình Sử xuất bản năm 1973, ra cho tôi xem và hỏi bài nào hơn:

Cửa này hôm trưa cũng hôm nay
Mặt ngọc hoa đào ánh đỏ hây
Mặt ngọc đi đâu mà chẳng thấy
Hoa đào cười gió hãy còn đây
(Phan Thế Roanh)

Năm ngoái hôm nay trong cửa ấy
Hoa đào cùng ánh mặt ai hồng
Mặt ai nay biết tìm đâu thấy
Riêng vẫn hoa đào cột gió đông
(Hư Chu)

Tôi liền chép gởi vào anh một bài của Bùi Khánh Đản dịch theo nguyên thể, 2 bài của Trần Trọng Kiên và Trần Trọng San dịch theo thể lục bát:

Năm ngoái ngày này dưới cánh song
Hoa đào ánh má mặt ai hồng
Mặt ai nay biết tìm đâu thấy
Chỉ thấy hoa đào trước gió đông
(Bùi Khánh Đản)

Hôm nay năm ngoái cửa cài
Hoa đào ánh với mặt người đỏ tươi
Mặt người chẳng biết đâu rồi
Hoa đào còn đó vẫn cười gió đông
(Trần Trọng Kim)

Cửa này năm ngoái hôm nay
Hoa đào phản chiếu mặt ai ửng đào
Mặt người giờ ở nơi nao
Hoa đào vẫn đó cười chào gió đông
(Trần Trọng San)

Và nói bỡn cùng anh:

– Cả 5 bài thơ dịch đều là 5 bức ảnh do Diễn Thọ vẽ Chiêu Quân dâng cho vua nhà Hán. Người dưới hoa đào, nếu đọc được chắc không đến nỗi tương tư mà chết, và nếu Thôi Hộ đọc được chắc phải chết lần thứ hai. Cũng may đã có cụ Nguyễn Du cho hương hồn Thôi Hộ cùng bọn ham thơ của chúng ta thấy rằng Thơ Việt không nhượng thơ Trung Quốc:

Trước sau nào thấy bóng người

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.


Đó là cuộc vui đầu năm của chúng tôi đưa đến cho nhau.

 

Ở Long Xuyên, ba ngày Tết thì lạnh 21 độ. Sau tết lại nóng kinh khủng, cả ngày nóng đến 34 độ. Mà hễ nóng thì tai anh ù, ăn không được, ngủ không được. Suốt ngày chỉ có buổi sáng sớm là mát. Khoảng 6 giờ sáng, anh ra sân đứng làm thâm hô hấp trước hai gốc mai chiếu thủy.

Hai gốc mai đó là của chị Lộc Đình trồng. Trồng xuống đất chứ không trồng trong chậu, cắt xén thành 4 tầng; mỗi tầng, mặt trên là lá xanh non, có cả trăm cành nhỏ, từ những kẽ lá mọc ra những chùm 5, 6 cái bông 5 cánh trắng mà chùm nào cũng rũ xuống đất, thành 1 lớp hoa trắng ở dưới một lớp lá xanh. Mỗi ngày nở không biết mấy trăm bông và rụng cũng không biết mấy trăm bông. Mặt đất đầy những ngôi sao trắng. Hương thơm ngất và mát tỏa khắp sân. Như vậy trong hai tháng.

Trước hai gốc mai, anh làm 30 thâm hô hấp và 30 cử động 2 cánh tay. Anh thấy tỉnh táo và nhẹ người bằng tắm nước lạnh. Anh gọi là “tắm hương mai”.

Ngoài cái thú “tắm hương mai”, anh còn cái thú đi lang thang trong vườn để tìm hương xoài, hương cau, hương bưởi mà nhớ lại hồi mới về Long Xuyên (đã 50 năm rồi), để nghe chim hót dưới ánh nắng dịu độ nửa giờ rồi bay đi, đi đâu không biết…

***


Nhưng thú vui của cảnh chỉ làm nhẹ nỗi buồn của lòng trong giây lát thôi.

Anh hỏi tôi:
– Anh có thấy bao nhiêu đắc thất, thăng trầm trong trên nửa thế kỷ của tụi mình như một giấc kê vàng không? Tác giả nào đặt được ngụ ngôn đó thật là thiên tài. Phương Tây tôi không thấy có truyện nào như vậy. Tôi thường nghĩ giá tôi không viết được ít cuốn sách thì đời tôi thật vô nghĩa. Nhưng rồi lại nghĩ rồi đây sẽ thấy ngay những cuốn sách đó cũng vô nghĩa nữa!

Nhắc đến bạn bè, anh nói:

– Không nhà thơ nào số tốt như Đông Hồ. Sống thì phong lưu, nổi danh sớm, chết thì thật đẹp; chết trên tay học trò trong khi giảng bài ở Đại Học. (Lương Khải Siêu bảo học giả chết ở giảng đường như võ tướng chết ở sa trường. Vinh dự ngang nhau mà sướng hơn nhiều). Rồi bây giờ, Mộng Tuyết lại hốt cốt chồng đem về núi Tô Châu ở Hà Tiên, chôn gần mộ tổ tiên, trên một chỗ nhìn xuống Hồ, Động, nghe nói cảnh đẹp lắm. Mộng Tuyết được nhiều giúp đỡ, nên được phép chở cả cái quan tài bọc kẽm về Hà Tiên, chứ người khác thì phải phá quan tài, chỉ được đem cốt đi thôi. Tại mộ mới, cũng dựng bia khắc hai đôi câu đối Nôm của Giản Chi làm. Đám ma linh đình, người đi đưa rất đông. Mộng Tuyết còn tìm hoàng lan trồng bên mộ nữa. Đông Hồ tốt phước quá. Ấy là chưa kể việc anh ấy mới nằm xuống, vợ con lo xuất bản tất cả những bản thảo còn lại của anh ấy!

***


Tôi nới bỡn cùng anh:

– Anh Đông Hồ sanh phùng thời, tử phùng thời, tự hậu diệc phùng thời”. Thúc Giạ Thị chỉ sướng lúc sống. Lễ sánh điếu rất linh đình do bạn bè tổ chức năm 1951. Nhưng đám tang năm 1961 lại có phần đơn giản, người thân yêu phần nhiều đều ở xa… Còn bọn mình sống như thế này, chết như thế nào? Chết rồi sẽ ra sao?

Anh đáp:

– Nghĩ tới làm quái gì. Nghĩ: Thời thay đổi, tâm trạng mình cũng thay đổi mau quá. Tôi chưa có đứa cháu nội trai nào, con tôi đã ly dị mà cũng không muốn tục huyền. Tôi chẳng buồn. Cái việc có con cháu nối dõi không thành vấn đề nữa… Tôi tính chết thì hỏa táng cho con cháu đỡ phải đi thăm mộ. Giỗ các cụ, tôi còn sống thì còn cúng, chết rồi thì thôi. Chẳng ai cúng tôi, tôi cũng chẳng buồn… Sa đọa quá rồi?

***


Việc hỏa táng, anh nói đi nói lại lần này nữa là 3 lần. Lần thứ nhất năm 1980, nhân tôi tin cho anh biết tôi đựng xong bia mộ cho ông thân bà thân tôi, anh nói:

– Anh dựng bia mộ cho hai cụ giản dị như vậy là phải. Mộ má tôi ở Hà Đông bị thất lạc rồi. Mộ ba tôi còn nhưng đã phải dời vào một nghĩa trang chung cho cả mấy làng, chớ không còn ở ruộng nhà ở Sơn Tây nữa. Còn nhiều người khác đã bị bạt nấm.

Con cháu tôi ở cả nước ngoài. Tôi chưa biết chết rồi nên chôn hay nên thiêu. Chôn thì ở Long Xuyên này chỗ nào mùa nước cũng lụt, thiêu thì ở Long Xuyên không có lò thiêu. Nhưng tôi không buồn về điều đó. Biết đó là luật trời rồi.

Năm 1983 nhân đọc câu:

+ Vị qui tam xích thổ, nan bảo bách niên thân,
+ Dĩ qui tam xích thổ, nan thủ bách niên phần.

Anh bảo tôi dịch sao cho đàn bà không biết chữ cũng hiểu được ý nghĩa. Tôi dịch:

+ Chưa về ba thước đất, trăm năm khó giữ vẹn thân.
+ Đã về ba thước đất, trăm năm khó giữ mồ.

Anh cười:

– Sống không yên, chết cũng không yên! Cho nên chết thì hỏa thiêu là tiện nhất.

– Còn lúc chưa chết?

– Thì theo thuyết của anh “Đời còn vui được ta thì cứ vui”.

Từ đầu năm 1984, anh thường đau yếu, nét chữ viết đã run nhiều, nhưng giọng văn không buồn lắm và khí văn còn mạnh.

Anh là người đa văn, đa bệnh nhưng chỉ bệnh thường chứ không có bệnh nan y. Và trong lúc anh đau yếu, anh nghỉ viết văn chớ vẫn xem sách, xem lại bản thảo của mình, duyệt giùm bản thảo của bạn. Vì vậy nên theo lệ thường, mỗi lần có tác phẩm mới tôi đều gởi vào anh.

– Đầu thu gởi tập thi thoại Hứng Phấn Nâng Hương thứ II của tôi.

– Giữa thu gởi tập lịch sử Nhà Tây Sơn của con tôi là Quách Giao.

Lúc ấy anh đã lên Sài Gòn để chữa bệnh, khi nào thật mạnh rồi anh mới về Long Xuyên. Anh ăn kém, ngủ ít và chẳng muốn vận động, chỉ nằm suốt ngày, bạn bè ít tiếp và không dám tiếp lâu. Trĩ cũng đau. Anh đau bệnh trĩ (tái phát), ho, loạn nhịp tim v.v…. Chị đau bệnh giaucome phải mổ! Lại bị huyết áp cao. Cả hai vợ chồng uống thuốc Tây có, thuốc Bắc có. Nhà thì không có ai mà cả vợ chồng đều đau, thật lúng túng!

Đau thì đau, anh cũng ráng đọc hai tập văn tôi gởi đến, “nếu không thì không yên tâm”. Đọc rồi viết thư cho biết ý kiến:

“Về Hứng Phấn Nâng Hương: Tập này anh viết công phu lắm. Những người đọc “Đường Luật” nói về Thi pháp của anh, nên đọc tập này để bổ túc.

Coi mục lục tác phẩm của anh, tôi ghi ở trang cuối tập thi thoại: thật siêng năng và phong phú. Riêng về việc dạy làm thơ luật, anh có tới 4 tập!”.

Về tập Nhà Tây Sơn của Quách Giao, anh viết:

“Tập Nhà Tây Sơn này viết kỹ lắm, nhất là:

– Nguồn gốc Tây Sơn Chương 1, 2,

– Anh hùng nghĩa sĩ phò tá Tây Sơn – Chương 4,

– Cảnh nứt rạn trong Nhà Tây Sơn viết rất rõ – Chương 10,

– Quang Trung đại phá Mãn Thanh đọc thấy hồi hộp và khoái – Chương 13,

Trần Quang Diệu chiếm thành Bình Định – Chương 20,

– Đối với nhà Tây Sơn.

Chê nhà Nguyễn đúng đấy, nhưng nên nương tay với họ một chút, đừng đạp thêm nữa, vì ở trên đã đập họ nhiều quá rồi… “ (Thư 14/8/1984).

Được anh khen chúng tôi hết sức sung sướng. Sách không cần ra đời, vì “viết mà đạt được ý và có người hiểu mình” là không uổng công sức, xuất bản được hay không là việc phụ.

***

Hai bức thư 6/7 và 14/8/1984 cách nhau 1 tháng 8 ngày đều viết ở Kỳ Đồng. Anh lên Sài Gòn vào trung tuần tháng 6/1984: Gần hai tháng điều trị mà bệnh chỉ giảm phân. Nét bút của anh đã yếu; viết lại sai nhiều phải sửa đi sửa lại, nhưng lời lẽ vẫn sáng suốt, khoan hòa. Tôi yên tâm. Tôi lại được thư anh Giản Chi cho biết:

– Tôi vừa thăm anh Lộc Đình. Bệnh anh ấy mới đỡ chứ chữa khỏi hẳn.. Tuổi già, người suy nhược, phải tẩm bổ nhiều. Mỗi ngày một thang thuốc Bắc, sáu bảy trăm đồng. May, anh ấy còn đủ điều kiện.
(Thư 25/9/1984)

Để cho Lộc Đình yên tĩnh mà dưỡng bệnh, tôi thưa viết thư cho ảnh (Tánh ảnh, hễ được thư bạn là lo hồi âm, bệnh nặng thì thôi, chứ cầm bút được là “không nỡ để bạn trông đợi”). Tôi thường hỏi thăm tình trạng sức khỏe của anh nơi Giản Chi. Đầu tháng 11/1984, Giản Chi cho biết:

– Lộc Đình vẫn đau. Vẫn phải vừa đi châm cứu vừa uống thuốc Bắc. Bệnh chuyển chậm hơn… thư. Anh biên thư thăm Lộc Đình đi. Thư anh gởi cho tôi kỳ rồi đi nhanh – triệu chứng bệnh Lộc Đình cũng sẽ noi gương mà chuyển mạnh. (Thư 3/1/1984).

Lúc ấy tôi bị đau con mắt. Con mắt hư thì nhức. Con mắt lành thì mờ dần. Nha Trang không chữa khỏi tôi phải về Qui Nhơn. Vừa trở về Nha Trang thì được thư Giản Chi, tôi liền viết thư ngay cho Lộc Đình. Thư tôi viết ngày 20/11/1984, đến Kỳ Đồng vào cuối thượng tuần tháng 12/1984. Anh phúc:

Anh lại đau con mắt kia nữa? Phải bệnh glaucome không? Tôi nhớ hồi đó, có một người khuyên anh mổ con mắt đau rồi thì nên mổ luôn con mắt lành đi, vì thế nào nó cũng bị lây. Đã trên 10 năm rồi, bây giờ nó mới bị lây sao?
Nhà tôi cũng bị Glaucome (đông y gọi là một thứ thiên đầu thống), mổ hơi trễ nên chỉ cứu được từ 1/3 đến 1/2 con mắt đau thôi. Nằm bệnh viện St Paul không tốn kém bao nhiêu. Nhà tôi xin mổ luôn con mắt kia, họ coi rồi bảo phải đợi khi nào nó nhức thì tức tốc lại họ, họ mổ cho, có thể cứu được 8, 9 phần 10.

Riêng tôi thì suy nhược toàn bộ; cơ quan hô hấp, tiêu hóa, tuần hoàn, bài tiết, thần kinh… đều suy hết. Ông lang bảo phải uống chừng 100 thang; tôi uống được 30, 40 thang rồi, lại châm cứu nữa cũng đỡ được một phần. Chủ yếu, theo các bạn là phải nghỉ ngơi hoàn toàn, đọc sách tiêu khiển thôi, nghỉ viết, không suy nghĩ nữa… Nhưng như vậy thì biết làm gì cho hết ngày anh? Học đánh cờ chó với con nít, hay đánh đáo, đánh bị với chúng?

Khoảng 1/2 tháng nữa chúng tôi về Long Xuyên, chưa biết bao giờ mới lại lên… (Thư 11/2/1984).

Thư đến Nha Trang sáng thứ bảy 22/12/1984, nhưng tôi đi vắng, sáng Chúa nhật 23 mới đọc.

Tôi đọc vừa xong, bức thư còn nằm nơi tay thì Châu Hải Kỳ đạp xe đạp tới, hớt hải nói:

– Anh Lê mất rồi! Mất khi hôm. Tôi mới được tin khi sáng.

 

Tôi sửng sốt! Bức thư rời tay lúc nào không hay. Khi lấy lại bình tĩnh thì Châu Hải Kỳ đã đi mất! Không biết anh mất ở Sài Gòn hay Long Xuyên, tôi liền đánh điện tín cho Giản Chi:

– Lộc Đình mất chúng ta mất nửa buồng gan. Không biết gia đình ở Kỳ Đồng hay Long Xuyên. xin nhờ anh chuyển giùm lời phân ưu đến chị Lê và tang quyến.

Trong thư ngày 11/12/1984 của anh không có dấu hiệu gì báo trước sự vĩnh biệt, nét chữ của anh lại có phần tươi hơn nét chữ trong hai bức thư 6, 7 và 14/8 nữa kia. Ai ngờ!

Chín mười năm nay tôi như chiếc thuyền nan trên con sông “vận hạn”, hết sóng dập gió dồi, đến các bồi nước cạn. Nhờ có Lộc Đình, Giản Chi, Nguyễn Đồng, Quách Tạo làm trụ tinh thần cho con thuyền tôi tồn tại. Nay gãy mất một trụ rồi! Đau xót biết chừng nào!

Tôi khóc:

Người già hạt lệ như sương

Mình già hạt lệ lại thường như mưa.


Gần một tháng sau ngày anh tạ thế, tức gần Tết Ất Sửu (1985), tôi mới nhận được thư anh Giản Chi cho biết rõ về những ngày cuối của Lộc Đình:

“Tiếp được thư 12 / 12 / 1984 của anh, chưa kịp trả lời, thì tim gan tôi rối bồi trước cái chết bất ngờ của Lộc Đình xảy ra đêm 22 / 12 / 1984 tức Mồng Một tháng
Chạp năm Giáp Tý.

Chủ Nhật, 16/12/1984, lúc 16 giờ, tôi còn trò chuyện với ảnh ờ Kỳ Đồng. Ảnh bị cảm, hơi sốt, nhưng khác với mọi lần là thấy mệt và khó thở. Mọi lần tôi thăm ảnh, bao giờ ảnh cũng ngồi dậy, mặc dù tôi mời ảnh cứ nằm cho. Nhưng lần này, tôi mời thì ảnh miễn cường, nghển lên một tí rồi đành nằm bệt! Tôi nói với ảnh: “Anh mệt nhiều, nhưng tinh thần vẫn tốt”. Anh khẳng định nhận xét của tôi: “Phải, tinh thần tốt, không sao”, và thêm: “Năm nay tệ quá, nhà tôi mổ mắt, tôi thì lệt bệt, phải đi phải lại hoài, Thầy tử vi bảo già mà hạn gặp Đào hoa Hồng loan thì khó qua, phải không?” Tôi đáp: “Theo tôi nghiệm thì không nhất thiết như thế. Vả lại còn có một tháng 14 ngày nữa là hết năm hạn của anh rồi”. Tôi yên trí ra về, định Chú nhật sau trở lại, thì sáng Chủ nhật sau 23, chưa kịp đi, Lê Ngộ Châu (Chủ nhiệm Bách Khoa) cho con cấp báo tin dữ. “Anh Lê tối qua được đưa vào bệnh viện An Bình và đã mất lúc 21 giờ”. Tôi đến thì đã nhập quan rồi. Chị Lê nói: “Anh ấy dặn: Tống táng thật đơn giản, không cáo phó, không nhận phúng điếu và cấm lạy. Thiêu ngay”. Chị Lê theo đúng lời dặn: Lễ hỏa thiêu cử hành ở Lò Thủ Đức vào lúc 9 giờ 15. Tuy không có cáo phó, mà các bạn thân vẫn đủ mặt: Người nọ thân chinh phi báo người kia. Ông già 83 tuổi Vương Hồng Sển cũng có mặt, chỉ thiếu mỗi Đông Xuyên mệt (cho hai con gái lại dự đám). Thiêu xong vào khoảng 14 giờ. Cốt mang về nhà riêng Kỳ Đồng, chứ không về chùa.

+ Điện tín của anh, tôi đã nhận được sáng 24 / 12 và đã cho người (con gái lớn của tôi) mang lại trao tay chị Lê.

Đúng như anh nói trong điện tín: “Lộc Đình mất, chúng ta mất nửa buồng gan”. Trước quan tài, không biết ngượng trước mọi người, tôi khóc nhiều quá, không sao cầm được những dòng lệ già vốn đã khan rồi. Ngay bây giờ, đang viết thư anh, tôi cũng muốn òa khóc. Thương người vừa quá cố, thương cho chính mình, thương chung cho kiếp người:

Cái thân những khổ trăm vành khổ
Kiếp sống nào không một chữ không.

Đọc Phật nhiều, hiểu lẽ Sắc, Không, tôi cứ tưởng mình có thể thản nhiên trước Đại Sự Sinh Tử. Lâm sự mới biết là mình chưa thật “ngộ”, mình vẫn tự huyễn, chả thua gì ai. Cho đến phút này đây, tôi vẫn chưa thật hết bàng hoàng, anh ạ…”
(Thư 26/12/1984).

Đọc thư anh Giản Chi, tôi khóc lớn!

Tết Ất Sửu đến. Nhớ lại năm nào cũng ngồi viết thư nói chuyện tết với nhau, lòng tôi nỗi buồn thương không sao nén được!

Bốn trụ tinh thần gãy một rồi
Thương lòng nhau quá Lộc Đình ơi!
Còn đâu những bức thơ đầm ấm
Che bớt phong sương lúc trở trời
Quạnh quẽ non xa gìn sự nghiệp
Bẽ bàng nắng xế đọng thư trai
Xuân về thêm nặng canh thương nhớ
Lạnh thấm nguồn nương bóng lão mai

Thơ cũng như nước mắt làm dịu dần nỗi buồn thương.

Chép thơ gởi cho Giản Chi. Cách hai ngày sau, tôi tiếp được thư Giản Chỉ. Thì ra thư anh gởi ngày 27/12/1984, một lần với bức thư 26/12/1984 nói về đám tang của Lộc Đình. Trong thư này có đoạn:

“Đêm qua nằm nghĩ vẩn vơ, nghĩ rằng chết như Lộc Đình vậy mà sướng. Sống như bọn mình khổ quá, giày vò. Cứ phải mài cặp mắt đau trên trang giấy để quên, để khuây khỏa! Để vẫn không hết nhọc nhằn, buồn rầu! Lộc Đình mất còn được chúng mình khóc. Đến lượt chúng mình, văn hữu nào sẽ khóc chúng mình đây? “Bè bạn lá vàng ngày mỗi rụi”! Buồn quá anh ơi! Tôi sực nhớ một câu thơ nôm hình như của Hạc Thành Hoa:

Nụ hồng đã rụng trong mưa
Mùa bong bóng vỡ bây giờ là đây
Trong hồn đã vắng cơn say…

Di chúc riêng của Lộc Đình có khoản: “Không nhận phúng điếu”, tôi đành ngâm thầm câu đối khóc ảnh:

Tảo thành bất hủ danh sơn nghiệp
Thống khốc nan năng mệnh thế tài”[1]
(Thư 27/12/1984).

Sau khi nhận được bài thơ của tôi, Giản Chi phúc:

“Bài thơ khóc Lộc Đình thành thực. Tuổi già như bọn mình không nên để cho lòng ấp ủ nỗi buồn thương quá lâu. Tôi đã đẩy lùi cơn khủng hoảng tinh thần bằng thiền định. Vì bận tọa Thiền, tôi ngừng dịch Vương Duy trên một tháng rồi… Tự hẹn sẽ trở lại với Vương trong mười bữa nữa: Còn nhiều việc phải hoàn tất mà tuổi thì cao rồi. Con người Lão Trang trong tôi có lúc đã thấy nao nao lo, nhất là sau chuyến ra đi của mấy người bạn đồng tâm, đồng chí, cỡ Lộc Đình. Trong tâm trạng ấy, tôi cố níu lấy nàng Thơ, mà nàng làm sao dạo này khó tính quá. Đành than suông:

Gieo neo hết thác rồi ghềnh

Tạm nương cái thế quân bình trên thơ…”

(Thư 19/2/1985).

Anh có nhắc đến bài Niềm Riêng viết đêm giao thừa 1979 để tặng Lộc Đình nhưng viết xong xếp đó chưa dám đưa cho Lộc Đình vì sợ xúc phạm lòng ưa lối “bố thí ly tướng” của ảnh.

– Nay – Giản Chi nói – Anh ấy đã ra người thiên cổ tôi nghĩ ít nhất cũng phải trình anh là bạn thâm giao chung của chúng tôi. Sau này tôi sẽ khấn Lộc Đình và xin phép đất gởi đến Tiềm Linh anh ấy.Không thì tôi không yên tâm.

Trong số bạn thân còn sống ở Miền Nam, Giản Chi là người hiểu và yêu kính Lộc Đình hơn hết, mà cũng là người được Lộc Đình gởi gắm tâm sự nhiều hơn hết. Nhớ người đã khuất, nhớ người xưa, đêm đêm lòng tôi thổn thức:

Tỉnh giấc song thơ nhớ bạn già
Nhớ người đã khuất nhớ người xa
Quay lòng ngó lại bao năm trước
Che mắt dường như mấy bữa qua
Sân vắng lá bay cành gió nhẹ
Đồi cao sương ánh giọt trăng tà
Thương mình nữa gối canh dư nửa
Trắng lạnh lùng hiên bưởi ngát hoa

Và đêm rằm tháng bảy vừa qua, làm lễ Vu Lan xong, tôi đem cuốn CHÁU BÀ NỘI TỘI BÀ NGOẠI của Lộc Đình ra đọc lại. Tập này anh viết tết Vu Lan năm 2518 Phật lịch (1974). Đọc mới mấy trang đầu, lòng tôi bồi hồi, ảo não… không đọc được nữa. Tôi xếp sách, ngồi khóc một mình.

Nha Trang, tháng 9 năm 1985

HẾT


————
[1] Câu đố của Giản Chi: Tảo thành: thành tựu sớm. Danh sơn nghiệp: Danh sơn sự nghiệp ngày xưa làm sách không công bố được như sách Sử ký của Tư Mã Thiên – đem giấu ở chốn danh sơn để mong đợi đời sau biết đến, nên gọi sự nghiệp trước tác, nhất là tác phẩm chưa hành thế, và Danh sơn Sự nghiêp). Thống khốc: Khóc một cách đau đớn. Mệnh thế tài: Tài của người có tiếng trong đời.

Bài có được từ internet từ đã lâu nay quên mất nguồn.😦

One Response to “NGUYỄN HIẾN LÊ qua Quách Tấn”

  1. songxungdang Says:

    Đầu tiên, xin cám ơn vị nào đã cho đăng bài này. Nhờ vậy mà được đọc tới.
    Bài viết dài, hơi đơn điệu, vì chỉ nói về một người và tình cảm giữa người đó với tác giả. Nhưng giọng văn thành thực, cảm động, thanh nhã mà đầy sự thương tiếc. Tôi đọc một lèo, lòng rất xúc động. May mà còn có những vị giúp cho ta tự tin vào cái đức của văn nhân Việt Nam cận đại.

    Cám ơn tác giả


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: