Một ngày phải khác mọi ngày (thơ Bùi Chí Vinh)

(Anh bạn gửi tôi bài thơ này. Thông thường tôi chỉ đọc qua thôi chẳng nhớ, nhưng mà bài này đau quá lại cộng thêm tin tức bên nhà càng làm thêm nhức nhối. Muốn được yên “tâm” làm toán mà chẳng yên. Ba chuyện nhảm thường ngày đã bỏ qua được rồi, nhưng những chuyện bậy ngày càng lớn và nghiêm trọng … Sức chịu đựng của con người tới đâu nhỉ?)

MỘT NGÀY PHẢI KHÁC MỌI NGÀY

(Sau một ngày thống kê một cách khách quan những bi hài kịch thời sự nóng hổi)

Chào một ngày giống hệt mọi ngày

Sóng truyền hình phủ toàn phim Trung Quốc

Từ HTV, VTV, BTV, Đồng Nai, Long An, Bà Rịa Vũng Tàu, Cà Mau… cho đến “cáp”

Hết “Triều Đại Mãn Thanh” đến “Đại Tống Truyền Kỳ”

Chào một ngày giống hệt mọi ngày

Đọc báo thấy cha ông mất hút

Thấy thiên hạ quỳ mọp dưới tượng đài Binh Pháp Mặc Công, Ngọa Hổ Tàng Long, Họa Bì, Xích Bích…

Con nít thuộc lòng Hoắc Nguyên Giáp, Hoàng Phi Hồng, Diệp Vấn, Diệp tùm lum hơn thuộc sử Tiên Rồng

Chào một ngày đất nước tự lưu vong

Cội rễ văn hiến 4000 năm trốc gốc

Tuổi teen gối đầu giường Lý An, Ngô Vũ Sâm, Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca lạ hoắc

Pano giăng khắp nơi hình ảnh Củng Lợi, Chương Tử Di, Thành Long phơi phới toét miệng cười

Chào một ngày phát triển giống đười ươi

Đi trên xã tắc thấy người thua xa khỉ

Thấy lô cốt ngáng đường, thấy nước ngập tận mông, thấy thánh hiền sợ quỷ

Thấy truyền thống chống ngoại xâm co rúm lại vì… tiền

Chào một ngày vong bản vì… hèn

Sống chết mặc bây, túi thầy vô cảm

Ải Nam Quan nằm ngoài ranh giới Việt Nam, xưa rồi Diễm…

Nước mắt Nguyễn Trãi khóc Nguyễn Phi Khanh rơi ở tận… nước Tàu

Chào một ngày bãi biển hóa nương dâu

Thác Bản Giốc rời Cao Bằng như có cánh

Thắng cảnh để lại của tiền nhân bị cháu con ghẻ lạnh

Các di tích, kỳ quan cứ mất tích đều đều

Chào một ngày hình chữ S tong teo

Tài nguyên bôxit bị bới đào như… bọ xít

Nhôm và đô la chẳng thấy đâu, chỉ thấy đất Tây Nguyên rên xiết

Ô nhiễm mạch ngầm, nước sông làm nghẹt thở Chín Con Rồng

Chào một ngày long mạch bị xới tung

Máu bầm đất đỏ bazan, máu tràn ra hải đảo

Ai cho phép Hoàng Sa Trường Sa thành Tam Sa lếu láo

Tội nghiệp rừng cọc nhọn của Hưng Đạo Đại Vương trên sóng Bạch Đằng

Chào một ngày giống hệt cõi âm

Những xác chết anh hùng bật dậy

Máu trả máu, đầu trả đầu. Nhớ đấy

Mãi quốc cầu vinh tất quả báo nhãn tiền

Chào một ngày soi rõ mặt anh em!

21 – 4 – 2009

BÙI CHÍ VINH

Advertisements

NGUYỄN HIẾN LÊ qua Quách Tấn

Người xưa nói về nhau và đối xử sao chừng mức quá. Đến thế hệ của tui là đã thấy bậy rồi!

NGUYỄN HIẾN LÊ qua Quách Tấn


Năm 1955, trở lại Nha Trang, việc đầu tiên của tôi là lo xây dựng tủ sách gia đình đã bị hoàn toàn phá hủy trong gần 10 năm tản cư về Bình Định.

Bộ sách làm cho tôi thích thú nhất trong sách tôi mua được khoảng 5 năm đầu, là bộ Đại cương Văn học Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê.

Đối với tôi, sách đã mới mà người soạn sách cũng mới.

Song phần nhiều những ý kiến giải bày trong sách, nhất là những kiến giải về thơ Đường luật, rất thích hợp với tôi. Như:

“Tiến từ giản dị đến phiền phức là một xu thế tự nhiên của nghệ thuật: Nghệ sĩ bao giờ cũng tìm cái khó để theo, có làm được việc khó, họ mới thấy hứng thú cho nên luôn luôn họ đặt ra quy tắc và hễ nói đến văn chương phải nói đến quy tắc.

Không một thể văn nào hoàn toàn tự do. Cả đến thơ Tự Do cũng phải tuân những luật về thanh âm. về số tiếng trong một câu. Chẳng hạn không thể lấy lẽ, rằng ta đưa tự do theo hứng, mà viết một câu thơ 15, 20 tiếng được. Độc giả chắc còn nhớ một thi nhân của ta, hình như là Nguyễn Vỹ, hồi Tiền chiến đã thí nghiệm một thể thơ 12 cước vận và thất bại. Ở Pháp cũng đã có người thí nghiệm thơ trên 12 cước vận mà không thành. Đến văn xuôi cũng phải theo một số quy tắc nhất định: Không phải ai muốn chấm câu ra sao thì chấm, muốn dùng chữ ra sao thì dùng.

Vậy đặt ra luật lệ mới, tự nó không phải là một việc vô ý thức. Vô ý thức là những kẻ hiểu lầm công dụng của những luật lệ ấy. Quy tắc để điều khiển cái hứng, giúp cho lối phô diễn được hoàn toàn, đẹp đẽ hơn, du dương hơn, chớ không phải để bóp chẹt cái hứng. Phải biết vứt bỏ luật lệ để giữ cái hứng, chớ không nên hy sinh cái hứng cho luật lệ. Thơ là để lả nỗi lòng, tả bằng hình thức nào cũng được; Cổ phong, thế luật… hễ tả mà cảm động được người là mục đích đã đạt. Thơ không phải là những tiếng ghép cho thành vần, cho có đôi, cho đủ bằng trắc.

Thi sĩ đời Đường sở dĩ bất hủ là nhờ họ hiểu lẽ đó: Biết có luật mà không chịu nô lệ nó. Họ biết phá luật để theo hứng. Những bài được truyền tụng nhất của họ phần nhiều như vậy. Chẳng hạn những bài Hoàng Hạc Lâu cua Thôi Hiệu, Anh Vũ Châu của Lý Bạch… đều thoát khỏi sự câu thúc của niêm luật.

Những thi sĩ ít tài, không hiểu lẽ đó, cứ bo bo giữ đúng phép của Thẩm Ứớc làm cho thơ mất sanh khí và luật thi hành một lối thơ “tiểu thừa” thấp kém nhất, một lối ghép chữ để du hý, tiêu sầu khiển muộn, như đá banh hay đánh cờ.

Do đó có sự phản động ngay ở đời Thịnh Đường. Hàn Sơn, một vị hòa thượng thi sĩ, giữ được cái phong khí của Đào Tiềm, chê đồ đệ của Thẩm Ước là bọn đui vịnh mặt trời.

Sức phản động ấy, tới cuối đời Thanh mới mãnh liệt…

Theo thiển kiến, luật thi là một tiến bộ tự nhiên trong lịch trình thơ Trung Quốc. Về hình thức, nó thật là hoàn hảo, nhưng nó chỉ hợp với những tình cảm đã được tiết chế, nó chỉ là một tiểu phẩm phải có người đa tài mới dùng nổi, và một khi nó đã được phổ biến trên ngàn năm thì tất nhiên người ta phải chán nó, tìm những thể mới hợp với tình cảm mới của người ta hơn…”.

Một quan niệm rất đạt lý về luật thơ Đường.

Rõ là lời nói của người học rộng, thấy xa, xét kỹ, nghĩ chín.

Qua văn tôi đoán biết tác giả Văn học Sử Trung Quốc là một nhà văn chân chính, một cây bút uyên thâm và thận trọng. Tôi liền đem lòng ngưỡng mộ và tìm thêm những tác phẩm khác để xem. Tác phẩm của Nguyễn quân có nhiều loại, sáng tác, biên khảo, dịch thuật… loại nào văn chương cũng bình dị, tự nhiên, nhiều khi cũng rất khúc chiết nhưng luôn luôn minh bạch không hề gây nơi người đọc những sự hiểu lầm.

Càng đọc Nguyễn quân, lòng tôi càng thêm yêu kính.

Song mãi 10 năm sau, tôi mới bắt đầu làm quen.

Đó là vào năm 1966

Tập thơ Đọng Bóng Chiều ra đời, tôi gởi tặng Nguyễn quân một bản đặc biệt.

Nguyễn quân phúc đáp:

Từ trước tôi vẫn thích cái vẻ cổ kính, trang nhã, điêu luyện và cái nhạc trong thơ của ông. Trong tập Đọng Bóng Chiều này, vẻ cổ kính còn hơn cả trong tập Mùa Cổ Điển.

Những bài Song Chiều, Run Phiếm, Rót Hương, Buồn thương, Tháng Ba Gió lạnh, Nửa Mộng, Đốt Cảnh, Bên Sông, Qua Xuân, Lặng lẽ… đều có những câu tuyệt thú, đủ tình, cảnh và nhạc. Tôi xin trân trọng cảm ơn ông. Tủ sách tôi thêm được một tác phẩm quí nữa. Sau này chắc không còn ai có cái giọng như ông đâu.

Tôi vốn mến cảnh Trung Việt. Từ mấy năm nay, vẫn mong cuốn Nước Non Bình Định của ông. Cảnh Bình Định mà được ông tả thì mới thật là xứng. Chắc nội năm nay nó ra mắt độc giả chứ?

Xin kính chúc ông được vạn an.

Thư đề ngày 9/4/1966. Đó là bức thư đầu tiên tôi nhận được của Nguyễn Hiến Lê. Tôi hết sức cảm động.

Tập Nước Non Bình Định đã viết xong và đã giao cho Nhà Xuất bản Nam Cường, song nhà xuất bản cứ hẹn rày hẹn mai, thành ra tập thơ ngũ tuyệt Mộng Ngân Sơn giao cho Kim Lai ấn quán sau mà lại ra đời trước.

Mộng Ngân Sơn ra đời mùa xuân năm 1967.

Nhận được sách tặng, Nguyễn quân liền đáp:

Năm trước ông đã cho thơ, năm nay ông lại cho thơ. Thơ ngũ ngôn mà tuyệt cú thì khó hơn thơ thất ngôn nhiều; mà trong tập Mộng Ngân Sơn này cũng có những bài tôi rất thích như Chiều Tiễn Biệt, Bến Đò Xưa, Nhớ Em, Đơn giản, Nghe Chim Huýt Cô, Búng Chân, nhất là hai câu cuối bài Cánh Hoa Sim, bài Chiều Thu, bài Trăng Khuya…

Tôi không chắc đã hiểu ý ông, nhưng gởi Phạm Công Thiện mà viết:

“Lịu địu bóng nhàn vân”

thì tôi thấy thú quá!

Ngay bài tựa của ông, tôi cũng thích rồi. “Đời mới tịch dương, còn đủ sức còn cố gắng”. Không biết ngày nay còn có được nhiều người thích lối viết trong bài đó không.

Thấy rao Nước Non Bình Định sắp ra, tôi mừng lắm. Yêu thì không gì yêu bằng quê hương, cho nên viết về quê hương thì không gì thú bằng mà vì thú mà dễ hay.

Ông được viết về Bình Định, ông Đông Hồ được viết về Hà Tiên, còn tôi thì chắc không bao giờ được viết về Sơn Tây cả! Xa quê tử năm 25 tuổi và bây giờ…

(Sài Gòn 2/3/1967)

 

Một năm sau Mộng Ngân Sơn, Nước Non Bình Định mới in xong.

Sách ra đời nhân lúc biến cố Mậu Thân (1968), nên việc gởi tặng bạn xa có phần chậm trễ.

Nhưng vì “đã nóng chờ Nước Non Bình Định từ hai năm trước, cho nên trong biến cố đầu xuân, khi các tiệm sách ở Sài Gòn lác đác mở hé cánh cửa, Nguyễn quân vội đi tìm ba lần mới kiếm được, đem về đọc trong những giờ giới nghiêm”. Và sau khi nhận được sách tôi gởi tặng, Nguyễn quân viết thư tin cho tôi biết rằng đã viết bài giới thiệu Nước Non Bình Định gởi đăng ở tạp chí Tin Văn, và ghi sơ các ý chính trong bài giới thiệu:

Phần núi sông ông viết rất kỹ, tôi theo dõi ông từng bước rất mong được thấy núi MẠ THIÊN SƠN và NÚI XƯƠNG CÁ.

Cảnh HẦM HÔ, GIẾNG TIÊN, chùa LINH PHONG, ông tả khéo, tôi chắc nhiều người sẽ mê.

Mươi trang lịch sử của ông gọn mà đủ; rải rác trong sách có nhiều cố sự, truyền thuyết và thơ.

Tài liệu rất phong phú, văn tao nhã mà tấm lòng với quê hương thật đẹp.

Trong đoạn kết, có mấy hàng này, tôi xin chép để ông coi trước:

– Tôi nghĩ dù không có tập Mùa Cổ điển và tập Mộng Ngân Sơn, một tập chứa nhiều bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt rất hay mà sau này ai có muốn làm tiếp công việc phê bình của Hoài Thanh tất phải nhắc tới, dù không có hai tập đó đi nữa thì chỉ nói công phu viết địa phương chí cho Bình Định, thi sĩ cũng xứng đáng là người con của Bình Định rồi.

(…) Tấm lòng của ông với quê hương thật là đẹp! Quê hương lẽ nào không quí tác phẩm của ông?… (Sài Gòn 3/4/1968).[1]

Nhân trong Nước Non Bình Định tôi có giới thiệu giống trà Cam Khổ và khen hơn cả trà Vũ Di Sơn, trà Trảm Mã, uống vào rồi thì cuống họng ngọt và thơm đến hàng giờ, Nước Non Bình Định “ước gì bình an trở lại, có được dăm cành để nhấm cho biết cái hương vị”.

Đối với Xứ Trầm Hương ra đời vào đầu xuân 1970, Nguyễn quân cũng rất hoan nghênh, và có bài giới thiệu đăng tạp chí Văn số 150 ra ngày 15/13/1970.

Cũng như trong bài giới thiệu Nước Non Bình Định, tình của Nguyễn quân trong bài giới thiệu Xứ Trầm Hương, chứa chan đối với non sông và niềm nở đối với tác giả. Tôi sung sướng viết thư tỏ nỗi lòng. Nguyễn quân đáp:

– Viết văn có hai cái thú: Diễn được ý của mình và gặp được người đồng thanh hiểu được lòng mình. Ngoài ra, còn có gì nữa đâu?

Tôi hoàn toàn đồng ý.

Nhân Nguyễn quân gởi tặng tôi cuốn Cổ Văn Trung Quốc và bộ Văn Học Trung Quốc Hiện Đại, tôi viết thư vào tán thưởng, có nhắc đến bộ Đại cương Văn Học Sử Trung Quốc cùng tấc lòng của tôi đối với bộ sách ấy. Nguyễn quân đáp.

Được hai bậc đàn anh khen, ông và ông Vi Huyền Đắc, tôi thật vui lòng, và xin tỏ ít nỗi niềm:

Hán học của tôi là thứ tự học, sơ sót nhiều lắm. Mỗi lần viết một cuốn về Trung Hoa thấy mệt quá, và in rồi thì cuốn nào cũng thấy có nhiều lỗi, nhiều lỗi nặng nữa. Ấy là đã thận trọng, gặp chỗ bí, hỏi các bạn rồi – như ông Giản Chi chẳng hạn. Độc giả từ trước đến nay chưa ai nỡ nặng lời chê, chắc cũng lượng tình cho rằng tôi thành tâm, thế thôi.

Mà thực tình là tôi thành tâm: thấy thiếu loại sách đó, nên biết là không đủ sức mà vẫn cứ viết. Lại biết rằng sẽ chỉ có một số ít người đọc thôi. Như cuốn Cổ Văn Trung Quốc mấy năm rồi, chưa bán được ngàn cuốn. Bộ Văn Học Trung Quốc Hiện Đại cũng không hy vọng gì hơn. . . (Sài Gòn 7 / 12 / 1969).

Tình chân ý khiêm: Thái độ của kẻ sĩ.

Đọc đến bộ Chiến Tranh và Hòa Bình của Nguyễn Quân dịch bộ Guerre et Paix của Tolstoi, mới thấy sức làm việc của Nguyễn quân dồi dào và bền bỉ khó có người sánh kịp. Công phu đã dày mà văn chương lại rất hấp dẫn. Thời Pháp thuộc tôi đã đọc bản chữ Pháp rồi, mà đọc bản dịch của Nguyễn quân tôi vẫn bị lôi cuốn. Bị lôi cuốn không phải vì cốt truyện, bởi cốt truyện đã được biết rồi, mà bị lôi cuốn vì mát mẻ ngọt ngào của văn chương.

Thường thường những nhà văn dồn tâm trí vào việc biên khảo, thì ít hay tìm hướng những cái đẹp cái quí nơi cảnh vật thiên nhiên. Cho nên tâm hồn có phần khô khan. Đến với họ , chúng ta có cảm tưởng là đến thăm những cảnh vườn trồng cây ăn trái, không có hoa lãng mạn, bướm du dương: Nguyễn quân yêu thiên nhiên cũng như yêu sách vở. Và đứng trước thiên nhiên dù là một cảnh tầm thường đến đâu, Nguyễn quân cũng tìm thấy những nét độc đáo để thưởng thức.

Tập Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười của Nguyên Quân chứng minh lời nói của tôi.

Nói đến Đồng Tháp Mười phần đông chúng ta chỉ nghe nói đến sình lội tới đầu gối và rộng hàng trăm thước, đến rắn hổ dài đến ba thước, đến đỉa trâu lớn bằng ngón chân cái, đến muỗi bay từng đám như đám mây, đến lau lách đìu hiu, đến những cánh đồng mênh mông và đầy chướng khí… Nhưng theo chân Nguyễn quân, chúng ta sẽ được chỉ cho thấy biết bao nhiêu cảnh nên thơ:

+ Trước hết là mùi hương của hoa: hoa sao, hoa sấu, hoa mù u. Hương thấm vào nước, ngào ngạt trong sương mai. Nguyễn quân kể lại: “Tôi nhớ mấy năm trước, đi đò ờ miền Hậu Giang, có lần vào xin nước mưa trong một nhà lá nhỏ nọ, tôi cầm chén nước vừa đưa lên miệng thì ngừng lại: Nước thơm quá y như là ngâm hoa. Rút khăn ra chùi miệng, khăn cũng phảng phất có hương. Nhìn lại mới thấy căn nhà cất giữa một khu trồng đầy sao và mù u”. Mới lên xe để đi đến Đồng Tháp vào lúc mờ sáng, Nguyễn quân đã cho chúng ta hít đầy phổi không khí thơm mát, trong lành…

+ Rồi đến những cảnh trên các rạch nước, trong những buổi chiều rực rỡ ánh hồng của mặt trời chiếu vào những chiếc buồm vàng hoặc trắng, ngọn gió hây hây thổi phất phất chiếc áo của các cô chèo ghe. .. Kẻ nhổ sào ra đi thường vui, nhưng cũng có vài người tiếc cái bến tạm, cất tiếng hò từ biệt người bạn đường mới gặp mà đã phải xa nhau, “Gặp nhau còn biết trên sông bến nào?” Những tình đó có khi thoảng qua, có khi bền chặt, luôn luôn giúp cho đời sống giang hồ có chút thi vị.

Đến GÃY – nơi kinh Lạc Giang và kinh Cát Bích gặp nhau thành một mũi nhọn kỳ dị, không khác một cành cây bẻ gập lại, – Nguyễn quân cho chúng ta thấy một cảnh lạ lùng: “Khoảng bảy giờ chiều, một cảnh mà chúng tôi không bao giờ quên được hiện ra trước mắt: Mặt trời lớn bằng cái nia, đỏ như cục than hồng, chìm lần trong đám khói mông lung ở chân trời; con kinh lấp lánh tựa xà cừ, đâm thẳng vào mặt trời, rồi bỗng nhiên ngừng lại, như bị chặt ngang mà đứt khúc. Tôi có cảm tưởng rằng chỗ đứt ấy là một vực thẳm và bao nhiêu nước trong kinh ùa cả vào vực mà xuống âm ti”.

(Cảnh chợ Hồng Ngự)

Cảnh chợ Hồng Ngự, đứng dưới tàu mà nhìn lúc mặt trời đã lên cao, thì thực là một bức tranh linh động và đủ màu: “Khăn choàng vàng đỏ phất phơ trên đường, ghe sơn xanh hoặc lam rập rình dưới bến; dừa ngả mình soi gương trên làn nước trong veo, nước dưng lên dờn tàu lá mềm mại láng mướt. Những chiếc tam bản hai chèo nhẹ như chiếc lá, lướt lên trên mặt nước loang loáng ánh hồng, lượn một đường cong cong và từ từ ghé bến, êm như vuốt ve. Cử động của thiếu nữ chèo tam bản nhịp nhàng uyển chuyển làm sao! Hai tay đưa ra trước, chân đá nhẹ ra sau, thân mình nghiêng nghiêng, áo quần phất phất…”

Còn bao nhiêu cảnh đẹp ở hai bên bờ kinh chạy qua những miền vườn tược tươi tốt, văng vẳng tiếng ca, tiếng hò, tiếng dệt cửi, xay lúa, tiếng trẻ em đánh vần, tiếng thiếu phụ ru con…

+ Trên những cánh đồng hoang vu, trên những dòng cô tịch… Nguyễn quân vẫn chỉ cho chúng ta thấy những cảnh đáng yêu:

“Sen! Sen mọc trong một cái lũng dài và rộng, nước còn độ vài tấc. Hàng ngàn bông đỏ điểm trên một nền xanh nhạt. Không khí chung quanh mát rượi và thơm phức. Gió hây hây trên mặt nước, sen rung rinh tỏa hương… Nhưng ánh chiều đã tà. Dù hoa có khoe sắc để giữ người lại thì cũng không thể nghỉ đêm bên hoa được. Phải đi. Đi mà cứ vài bước lại quay lại, cho tới khi bóng sen khuất hẳn…”

Khói và sương chiều bao phủ cánh đồng. Cảnh lạnh lẽo cô liêu có một. Vài đóm đỏ hiện lơ lửng ở chân trời như ngôi sao mới mọc. Giồng Lâm Vồ đấy. Ánh trăng vốn huyền ảo, trên ngọn giồng, giữa đồng cỏ dại này, lại càng huyền ảo. Nhìn xa xa chỉ thấy một màu mông lung, xanh xanh, xám xám. Vài tiếng sột soạt của rắn, chuột, trong đám năng, lát; một đám cỏ lay động dưới chân giồng rồi lại yên lặng hẳn… Trăng vằng vặc. Vài ba cái giồng nằm ở chân trời như những con vật khổng lồ đương thiêm thiếp ngủ.”

Còn nhiều cảnh đẹp khác. Mỗi cảnh có mỗi vẻ cớ mỗi thú, không cảnh nào giống cảnh nào.

Trong Đồng Tháp Mười, tác giả còn cho chúng ta thấy những phong tục lạ, những cố sự mà sử không thấy chép, những câu chuyện ly kỳ. Tôi thích nhất là chuyện cặp vợ chồng trẻ đã xảy ra ở Gãy:

“Ở Gãy lúc bấy giờ chỉ có độ mươi chòi lá. Một ngày đầu năm, một cặp vợ chồng trẻ chèo một chiếc xuồng tới, lên bờ tìm một miếng đất cất chòi. Họ chưa có con cái, ít giao du với ai. Người vợ không có sắc nhưng có duyên, người chồng lầm lì, ít nói và rất siêng năng.

Vợ nuôi heo, chồng làm ruộng. Thỉnh thoảng trong những đêm trăng, người ta nghe thấy trong chòi của họ cất lên tiếng hò. Mỗi lần như vậy thì ai nấy đều lắng tai nghe, người đương thiu thiu ngủ cũng phải tỉnh và tiếng ru con bặt hẳn vì giọng hò hay quá: giọng người vợ lanh lảnh, giọng người chồng thì trầm trầm, gợi lòng nhớ nhung thương tiếc những cõi xa xăm. Chất phác như dân quê ở đây mà đã nhiều người thổn thức khi cặp vợ chồng đó cất tiếng.

Điều đặc biệt là lâu lắm họ mới hò một lần mà chỉ hò trong những đêm trăng và chưa ai thấy chồng hoặc vợ hò với người thứ ba bao giờ.

Họ sống như vậy trên một năm. Một lần nọ, chồng vào trong đồng xa phát cỏ luôn bảy ngày. Khi chàng về nhà, vai vác phảng, lưng đeo nóp, thì trời đã sẩm tối. Mặt trăng vàng vàng lơ lửng trên ngọn so đũa. Tới cách nhà độ hai trăm thước chàng ngừng lại, cau mày, lắng tai nghe: Có tiếng hai người hò mà y như giọng của… Phải, đúng cái giọng lanh lảnh ấy. Anh ta cố lắng tai nghe. Trong ngọn gió anh nhận được vài tiếng của người kia, ngân nga và réo rắt.

Anh ta tự nghĩ:

– Miền này có ai mà hò hay như vậy?

Anh lặng lẽ bước tới, vẫn lắng tai nghe.

Khi đến nơi thì thấy một đám đông: từ người trong xóm đến các người trong ghe xuồng đậu dưới kinh đều tụ lại nghe hò. Không ai để ý đến chàng.

Chàng lựa một chỗ để nhìn rõ nét mặt hai người đang hò: Người đàn ông đẹp trai, trán cao, mắt sáng miệng rất tươi; Còn người vợ chàng thì sao hôm nay bận chiếc quần hàng Tân Châu thường ngày cất trong giỏ.

Hai bên vẫn đối đáp nhau: Giọng bên nam mỗi lúc mỗi quyến rũ, bên nữ dần dần có vẻ say sưa. Chàng yên lặng nghe, mơ màng: Khi hai người mới ở chung với nhau, nàng thường có giọng ấy; đã ba năm rồi, giọng có phần kém, và tối nay…

Bên nam cất tiếng, lời có chút gay gắt quyết liệt gắn bó:

– Hò o o ơ ơ… Mù u bông trắng lá thắm nhụy vàng, ơ ơ ơ. Anh đi khắp xứ, tới đây mới được gặp nàng.

Ơ ơ ơ. Thật là dễ thương… ơ ơ…

Hò ơ ơ ớ ớ… Nghe giọng nàng, anh những vơ vấn vấn vương…

Sống cùng nhau chẳng được cho anh phải mơ màng chiêm bao.

Chàng hội hộp đợi vợ đáp.

Suy nghĩ một chút, bên nữ cũng cất tiếng:

Hò o o ớ ớ… Lửng da trời bay lượn con chim hồng,

Ơ ơ ơ Gặp nhau sao quá trễ cho tấm lòng này xót xa.

Ơ ơ ơ Đêm nằm em luống những thở ra,

Đôi ta chẳng…

Tới tiếng “đôi ta” mắt nàng sáng lên, đắm đuối trong ánh trăng và giọng nàng hơi lơi lả.

Đám đông bỗng vẹt ra. Có cái gì loang loáng vút trong không, đầu thiếu phụ đã lăn trên đất, một dòng máu đen vọt lên. Ai nấy chạy toán loạn.

Đêm hôm ấy một chòi lá cháy rực trong xóm mà không ai dám lại cứu. Sáng hôm sau, một ngôi mộ mới đắp hiện lên ngay chỗ thiếu phụ chết. Còn người chồng thì từ đó biệt tăm, không ai biết là đi đâu.

Khi nghe giọng bất chính của vợ, chàng nổi cơn ghen và chém vợ bằng cái phảng ở trong tay.

Đọc thích thú quá, tôi hèn viết thư cho Nguyễn quân. Nguyễn quân đáp:

– Xin đa tạ ông đã đọc rất kỹ Đồng Tháp Mười… Những đoạn ông khen cũng chính là những đoạn tôi thích, mà một số bạn nữ cũng thích. . . (Thư 6 / 11 / 19 71)

Trong một bức thư nói về phong cảnh đẹp của đất nước, Nguyễn quân nói:

– Tôi nghĩ phong cảnh đẹp mà không có di tích của danh nhân thì cũng không thú, vì trước cảnh mình không có lòng hoài cảm, cảm xúc không đậm. Nước mình có rất nhiều cảnh đẹp mà rất ít nơi có di tích, có thì cũng không biết bảo tồn, không biết nhắc nhở cho du khách chú ý vào, nhất là thiếu di tích của danh sĩ. Điều đó tôi rất hận. Tới Hà Tiên mà không thấy di tích của CHIÊU ANH CÁC, cũng không có một tấm bia cho biết Chiêu Anh Các hồi xưa ở đây, thì kém thú nhiều lắm… Cái việc ông xây mộ cho HÀN MẠC TỬ là việc tốt đối với bạn, mà thực cũng là việc tốt cho những du khách sau này nữa. Đã trên 25 năm nay, có lần tôi ghé Qui Nhơn được nửa buổi, chỉ vừa kịp lại GÀNH RÁNG rồi trở về. Lần đó tôi chỉ ngó qua nhà nghỉ mát của Bảo Đại, không thấy có cảnh gì đẹp lắm. Lần sau có ra, tôi sẽ được ngắm thêm ngôi mộ của Hàn Mặc Tử và cảm xúc của tôi tất nhiên hơn… (Thư 22/ 4 / 1968).

Vì lòng yêu cổ tích nên năm 1939, vào Đồng Tháp Mười kinh lý, Nguyễn quân đã tìm đến Giồng Tháp, nơi xưa dùng làm Tổng hành dinh của nghĩa quân chống Pháp do Thiên hộ VÕ DUY DƯƠNG lãnh đạo (1862-1866). Cùng với một người bạn thân, Nguyễn quân đã băng qua một khoảng đường dài hơn 2 cây số trong lau lách và dưới bóng trăng mờ mờ

– Sao không đi ban ngày mà lại đi ban đêm?

– Di tích chẳng còn gì, không cần đi ban ngày để nhận xét. Đi ban đêm được cái lợi là dễ thông cảm với cố nhân.

Đó là lý. Nhưng tình thật là nhân “nhìn cánh đồng mờ mờ dưới ánh trăng mà nghe tiếng đàn gáo ảo não ở trên bờ kinh” lòng Nguyễn quân “bồi hồi nhớ lại người xưa”. Nhớ người xưa mà đi… Và khi đến Tháp:

– Lòng tôi – Nguyễn quân cho biết – hơi hồi hộp như lần đầu tiên tôi thấy núi Hùng: Con đường cũng ngòng ngoèo như khi tới núi Tổ. Giồng Tháp tuy không cao, nhưng cũng sừng sững ở trước mặt tôi nghiêm trang như núi Tổ.

Một tâm hồn tế nhị và nhạy cảm.

Chẳng những dễ cảm xúc trước những danh thắng, lòng Nguyễn quân vẫn thường rung động trước những cảnh trong vườn trong sân, trong những nơi mà ngày ngày ai cũng thấy nhưng không mấy ai lưu tâm. Chúng ta đã được cùng với Nguyễn quân hưởng nhiều thú vị trong những cảnh “rất tầm thường”, ở Đồng Tháp Mười. Tôi lại còn được Nguyễn quân chia phần, mỗi khi bắt gặp cảnh nên thơ ở quanh mình ở trước mắt:

+ Nằm giường bệnh nghe mấy con chim (không biết tên là gì) hót ờ xa xa, và bầy chim se sẻ ríu rít mỗi buổi sáng ở ngay cửa sổ, có khi chúng bay vào phòng, ngó nghiêng ngó ngửa, chíp chíp một lát rồi bay vù ra. (Thư 2 / 11/ 1972)

+ Cây đuôi chồn (một loại lilas) đương nhiều hoa: bướm và ong cùng tới một lượt, buổi sáng. Nó làm tôi nhớ một cây loại đó trên đường từ nhà tôi tới trường tiểu học Yên Phụ ở Hà Nội; lá nó quanh năm xanh như ngọc thạch, chỉ trừ hồi cuối mùa nắng, nó gần rụng, đỏ như lá vàng, hương ngào ngạt, và bướm ong tới rất nhiều, có lần cả mấy trăm con. (Thư 30 / 9 / 1978).

+ Cái mương bên cửa sổ phòng viết của tôi rộng độ 4, 5 thước, dài chừng 30, 40 thước, nhờ mùa lụt năm ngoái mà nay còn nước, chỗ sâu nhất được một thước nước, hai tháng nữa sẽ khô. Hiện nay mặt nước đầy bèo cám, lấp lánh vàng dưới ánh nắng. Hai bên bờ là những cây xoài, mận, chuối, dừa, có cả một khóm trúc nữa. Tàu dừa, nhất là cành trúc ở sát bờ, chiếu bóng xuống mặt bèo, nét chỗ mờ mờ, chỗ đậm sắc, đẹp hơn một bức họa của Mễ Phế. Một đàn 5 con vịt, có 2 con trắng, ngơ ngác trôi trên mặt bèo, ung dung, để lại phía sau một vạch nước lần lần bị bèo khép lại. Tôi nằm ở chiếc võng, dưới mái hiên và tàn mận, nhìn cảnh không chán. Trời xanh ngát, hoa mận lả tả rắc xuống bờ nước; sáng và chiều thoang thoảng hoa xoài. Về Long Xuyên lần này, tôi chỉ còn có mỗi cái vui đó…

Trước cứa nhà tôi lại có một cây lớn, gọi là cây Nính, cao đến 20 thước, thân đến hai ôm, cứ lúc đầu xuân này lá thay một lượt, bay lả tả suốt ngày đêm. Độ nửa tháng là trút hết lá. (Trong nửa tháng đó sáng sớm nào cũng có một cô giáo dắt 4 đứa trẻ nhỏ lại hốt lá đựng đầy bao bố tời, chụm được 2 ngày, khiến tôi nhớ lại 60 năm trước tôi lượm lá bàng như họ ngày nay). Lá non đâm ra một loạt xanh mơn man. Nhớ xuân ngoài Bắc quá. Trong Nam tôi chỉ thấy có mỗi loại đó là còn nhớ xuân! Nha Trang có cây nào như vậy chăng? Cây Nính có hoa có trái nhưng vô dụng… (Thư Long Xuyên 10 / 2 / 1979)

+ Sáng tôi thức sớm, năm giờ nằm chờ chim hót. Khoảng 5 giờ rưỡi, luôn luôn có một loài chim, tôi không biết tên, mở đầu buổi hội bằng 3 notes Tuy Tùy Túy, giọng cơ mà trong. Tiếp theo là các loài chim khác, đều lạ, (không có chim sẻ) đua nhau hót, rất vui, trong khi trên mặt đất là tiếng gà gáy, nghe thô làm sao! Cuối cùng luôn luôn có con cuốc chấm dứt buổi hội.

Thế là vườn lại vắng

Tôi ra vườn hưởng hương xoài và hương mai vàng. Hương xoài mát, hơi hắc, hương mai thoang thoảng, kín đáo, sang.

Một lát sau ánh nắng nhuộm vàng cả cảnh vật, từ cây cỏ đến người, phố xá… Càng gần trưa thì da trời càng xanh ngắt, thăm thẳm và trong (Long Xuyên 16 / 2 / 1981).

vân vân…

Những cảnh thú đó, không biết Nguyễn quân có chia cho bạn nào nữa chăng, hay là chỉ riêng một mình tôi được chung hưởng?

Nguyễn quân cho tôi được chung vui là vì qua NƯỚC NON BÌNH ĐỊNH và XƯ TRẦM HƯƠNG, biết rằng tôi đồng sở thích. Tôi cũng thường trình bày cho Nguyễn quân biết những cảnh nho nhỏ mà tôi thấy đẹp ở quanh tôi. Nguyễn quân cho rằng tôi có nhiều điểm giống mình, về văn chương cũng như về nhân tình thế sự, về đạo đức cổ kim… Cho nên thường gởi thư nói chuyện với nhau.

Thơ từ qua lại, mỗi ngày mỗi thêm tỏ lòng nhau, mỗi thêm yêu mến nhau. Mỗi tháng, ít nhất là chúng tôi gởi cho nhau một bức thư. Vắng thư lòng nhớ nhung như nhớ tình nhân, nhớ quê kiểng.

Thời Tiền Chiến, tôi có 4 người bạn chí thiết là Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê và Yến Lan. Rồi Tử và Khê nối nhau qua đời. Viên và Lan đi tập kết ra Bắc. Suốt một thời gian dài đằng đẵng, tôi không có tri âm, Thi Vũ quen thời Hậu Chiến, ở tận Paris xa xôi quá, Phạm Công Thiện, tuổi còn trẻ và tánh chưa định. Không đủ sức sưởi ấm cõi lòng cô tịch của tôi. Nguyễn Hiến Lê đối với tôi là một lò lửa hồng trong đêm đông mưa gió…

Từ ngày được làm thân cùng Nguyễn quân, tôi làm việc thêm hào hứng. Có những ý nghĩ hay, gặp những câu chuyện thú, được những vần thơ đẹp… tôi đều gởi đến Nguyễn quân và Nguyễn quân luôn luôn đáp ứng.

Có người thấy tôi làm việc siêng nhưng không nghĩ đến việc xuất bản, hỏi:

– Viết để làm gì?

Đáp:

– Để sống.

Nguyễn quân đồng ý, nhưng nói thêm:

– Chúng mình viết để sống, mà ngày ngày cặm cụi viết thành ra Sống để viết. Không viết buồn chịu sao nổi.

Tôi nói bỡn:

– “Gái mười tám, lão tám mươi, lộn qua lộn lại, vẫn người đồng canh”. Cho nên còn sống thì còn viết. Hết viết được thì không còn sống dai.

Lại nói thêm:

– Nhưng còn viết được mà chết thì kể cũng đáng tiếc.

Nguyễn quân đáp:

– Ông tham quá!

Tôi thường phàn nàn cùng Nguyễn quân rằng hầu hết các bạn làm thơ Đường luật của tôi không chịu học. Đến cả tập Thi Pháp Nhập Môn cũng vẫn chưa xem qua!

Nguyễn quân nói:

– Tôi cũng thấy các bạn văn trẻ bây giờ ngông lắm. Tôi nhớ một bạn bảo tôi: “Văn sĩ CALWELL của Mỹ nổi tiếng khắp thế giới mà ông ta bảo không hề đọc sách của ai cả: người viết nhiều thì không đọc, người đọc nhiều thì không viết. Vậy thì cần gì đọc sách?”

– Ngông thật

Nghiêm Vũ đời Tống, một nhà luận thi có trác kiến, thường nói:

– Cái biệt tài trong việc làm thơ không ăn nhập gì đến sách vở học thức cả.

Nhiều người cho lời nói đó là chân lý và xem khinh việc đọc sách. Nhưng họ không nghĩ kỹ rằng tuy bảo “thơ có biệt tài biệt thú”, Nghiêm Vũ vẫn công nhận “không đọc sách nhiều, không suy nghĩ nhiều, thì không thể làm thơ hay được”. Và Vương Sĩ Trinh đời Thanh nói: “Bảo rằng làm thơ có biệt tài không liên quan gì đến học vấn, ấy là nói trong đám người đọc sách chớ không phải nói trong đám người không hề đọc sách… Tính tình Học vấn phải ỷ phụ vào nhau. Học lực có thâm hậu, tính tình mới lộ ra đặc sắc”.

Đem bàn cùng Nguyễn quân, quân khuyên tôi nên đem vào Thi thoại.

***


Tôi là con người thiếu đức TỰ TÍN.

Làm việc gì, việc đời cũng như việc văn chương, tôi cũng đều tận tâm tận lực, nhưng không bao giờ dám tin rằng mình thành công.

Tôi tâm sự cùng Nguyễn quân. Ông đáp:

“- Tôi hơi lạ về lời tâm sự của ông (“thiếu tự tín”), vì thường thường, sở đoản của mình thì ít khi mình biết (hoặc biết mà không chịu tự nhận) còn sở trường thì dễ nhận chứ, nhất là mình đã đọc nhiều, tự so sánh với các cây viết đồng thời.

Ông cứ vững tâm đi. Về thơ cũ, nhất là thơ Đường luật hiện nay chỉ còn ông và ông Đông Xuyên, mỗi người một vẻ, nhưng đều đạt tới một mức cao, hơn thơ cũ của Đông Hồ.

Đông Xuyên không viết văn. Còn văn của ông có phần không tươi bằng văn Đông Hồ, nhưng ông tả cảnh hay hơn, và văn Đông Hồ đôi khi hơi cầu kỳ, văn của ông không mắc phải lỗi đó.

Tôi không nhớ trong một bài báo hay cuốn sách nào, cách đây hơn một năm, một bạn trẻ cũng nói rằng thích văn của ông hơn thơ của ông nữa (phải lớn tuổi mới thích thơ ông được). Vậy ông còn nghi ngờ gì nữa?”.

Nhận thấy tình Nguyễn quân rất chân thật nên hễ hoàn tất được tác phẩm nào tôi đều gởi vào cho Nguyễn quân xem. Về thơ thì Nguyễn quân chỉ nêu ra những bài những câu ưa thích. Còn về văn xuôi thì Quân xem đi xem lại đôi ba lần, rồi chỉ cho biết những ưu những khuyết. Những tập thi thoại Hương Vườn Cũ, Trong Vườn Hoa Thơ, Hứng Phấn Nâng Hương, tập nào cũng dày trên dưới 500 trang pelure đánh máy hàng dày mà vẫn được Nguyễn quân khuyên và sổ từ đầu đến cuối. Cho đến những lỗi về chính tả (chứng bất trị của tôi) cũng được Nguyễn quân nêu ra để tôi sửa chữa hoặc tự sửa giùm. Ý kiến của Nguyễn quân rất xác đáng. Tôi luôn luôn phục tùng.

 

Riêng tập Đời Bích Khê, tôi chia làm 4 chương cho dễ viết:
– Những quãng đời,
– Những cuộc tình duyên,
– Đời thơ,
– Chút tình riêng.

Tôi nhận thấy không được nhất trí: Đọc lại tôi có cảm giác ăn gỏi gà mà ăn thịt riêng, ăn rau sống riêng, ăn đậu phụng rau răm riêng… Nguyễn Hiến Lê đồng ý với tôi và bảo:

“- Nếu ông viết lại cuốn đó thì tôi đề nghị lồng cả ba chương II, III, IV vào chương đầu. Ông cứ theo thứ tự thời gian mà chép. Lúc thì chép đời sống, lúc thì phân tích tâm lý, lúc thì phân tích thơ, và thêm ít đoạn tả cảnh những nơi Bích Khê đã sống nữa (đây là sở trường của ông); như vậy tác phẩm sẽ linh động, hấp dẫn và nhất trí hơn.

Nhưng sức khỏe ông không biết còn dồi dào không; chứ tôi nghĩ tới cái việc viết lại hết thảy như vậy thấy ngán lắm. Chắc tại tôi yếu hơn ông rồi, mặc dù tuổi tôi còn kém…” (Thư 6 / 11 / 1971).

Ý của Nguyễn quân thật hợp với ý tôi.

Tôi muốn viết lại. Song thấy mất công quá. Thêm còn nhiều vấn đề khác quan trọng hơn. Nên đành phải để vậy.

Những khi đọc thư tôi thấy có giọng chán nản buồn bã, Nguyễn quân liền viết thư ra an ủi khuyến khích.

Chẳng những về mặt tinh thần mà thôi, về mặt vật chất tôi cũng được Nguyễn quân giúp đỡ:

Năm 1973, tôi bị bệnh Glaucome, tức bệnh Thanh quang nhãn do bệnh Thiên đầu thống gây nên. Bệnh phát chỉ một đêm, đầu nhức như bị búa bửa. Sáng ra đến Bác sĩ khám thì một mắt đã hỏng mất rồi! Chữa suốt cả tháng vẫn không hết nhức đầu phải vào Sài Gòn mổ. Đầu hết nhức song mắt vẫn mù một con. Tôi tự an ủi:

– Cụ Nguyễn Đình Chiểu mù cả hai con mà vẫn vui, mà vẫn nhờ Lục Vân Tiên tỏ niềm hy vọng:

Đêm nằm mơ thấy ông tiên

Bưng cho chén thuốc mắt liền sáng ra.


Thì mình tội gì lại không lạc quan.

Sau khi ra bệnh viện, tình cờ gặp một lương y nổi tiếng về nhãn khoa. Lương y giỏi chữ Pháp, họ Cao, người Bắc Việt di cư ở tại Vân Đồn Sài Gòn. Lương y rằng đã từng chữa khỏi bệnh Thanh quang nhãn cho nhiều người. Chỉ cần có tê giác pha với thuốc thì nhất định chữa sáng con mắt bệnh và giữ vững con mắt lành. Tê giác lúc bấy giờ rất hiếm. Đôi tiệm thuốc Tàu có bán song giá đến 6.000 Đ mỗi chỉ. Mỗi ngày tôi phải uống một thang thuốc pha với một chỉ tê giác, và phải uống ít nhất là vài ba tháng mới có hiệu quả.

Không thể bỏ tiền ra mua tê giác nơi các chú Ba Tàu, tôi lo chạy tìm lấy.

Các thân hữu gần, xa nghe tin, ai nấy đều để ý tìm mua giùm.

Nhưng tìm mãi không có.

Tôi chợt nhớ lúc nhỏ nghe nói nơi Từ Đường họ Quách có một “U Tây” của ông bà Cao để lại, tôi liền về Bình Định. Chị Quách Cư, người thừa tự hiện kim, bảo tôi:

– Vật gia bảo không thể đem đi xa được. Chú có muốn dùng thì về đây mỗi bữa mài một ít mà dùng. Và mài với nước chớ không được nạo bằng dao.

Thầy thuốc ở Sài Gòn, tôi ở Nha Trang, tê giác ở Bình Định và chỉ được phép mài chứ không được nạo, thì thuốc làm sao chế cho được?! Âu đành làm con độc nhãn long cho khỏe thân. Cuối năm 1973, tôi nhận được thư của Nguyễn Hiến Lê cho biết:

Non tháng trước Thi Vũ cho tôi hay ông định uống thuốc Bắc, mỗi thang cần 1 chỉ tê giác giá 6.000$00. Tôi nhớ khoảng 1935-1945, bác tôi có thứ đó, do mấy ông thầy Quảng (Nam Ngãi) đem vô bán. Mấy ông thầy Quảng này biết chút ít chữ Hán, vô trong Nam này kiếm những nhà điền chủ giàu mà trọng chữ Hán, để bán đủ thứ thuốc hiếm: Quế Thanh, Long Diên Hương, Tê giác, Vảy Trúc, v.v… lâu lâu bác tôi đem mài trị bệnh cho người thân, bảo tê giác giải nhiệt và giải độc. Tôi bèn viết thư hỏi ông anh tôi (Bác tôi đã qui tiên gần 15 năm rồi), may ông ấy còn giữ, cưa một nửa gởi cho tôi. Tê giác mới tới hôm nay nhưng ông Châu Hải Kỳ một tuần trước bảo ông không uống thuốc Bắc mà dùng thuốc Nam, thấy bớt nhiều[1]. Vậy lúc này ông chưa cần tê giác. Khi cần xin ông cho hay, tôi sẽ gởi ra. Tôi mù tịt, nó có phải là thứ thiệt không, nhưng tôi đoán cả thế giới chỉ còn được mấy chục con tê ngưu ở châu Phi, thì khó mà có thứ thiệt được lắm… (Sài Gòn 7/12/1973).

Tôi mừng quá, sai con vào Sài Gòn phân khúc tê giác đem đến Cao lương y. Lương y xem đi xem lại rồi đem nhờ người Tàu chuyên môn ở Chợ Lớn giảo nghiệm. Kết quả: sừng sơn ngưu chớ không phải sừng tê giác. Không dùng chế thuốc được!

Không đùng trị mắt được, khúc sừng này đối với tôi vẫn là một bảo vật. Giá trị tinh thần không biết nói gì cân, không biết lấy gì lường! Tôi xin Nguyễn quân cho tôi giữ làm kỷ niệm[2].

Trong lúc tôi đau mắt, ngoài vợ con tôi ra, Nguyễn quân và Thi Vũ là hai người lo cho tôi nhiều nhất.

Báo tin bệnh cho Nguyễn quân, tôi có mấy vần hí hước:

Duyên văn chương đương thắm
Thân già bỗng đảo điên
Một đêm đầu nhức nhối
Suốt tháng bệnh triền miên
Hóa nửa cụ Đình Chiểu
Không hai chàng Vân Tiên
Nên đường hoa chỉ thoáng
Những bán diện thuyền quyên.

Trong lúc tôi nằm bệnh thì có hai tác phẩm của tôi ra đời: Tập Giọt Trăng do Thi Vũ ấn hành ở Pháp và tập Tố Như Thi Trích Dịch do An Tiêm xuất bản ở Việt Nam. Nhân đó Nguyễn quân viết một bài đăng ở tạp chí Bách Khoa, số 401 ra ngày 15 / 12 / 1975, nhan đề là Thi Sĩ Quách Tấn, Hai Tập Thơ Một Chứng Bệnh.

Bằng những lời nhẹ nhàng giản dị, Nguyễn quân giới thiệu một cách đầy đủ cả hình thức lẫn nội dung tập thơ sáng tác và tập thơ dịch: “Trong một năm giữa lúc củi quế gạo châu này mà cho ra được hai tập thơ. Tập nào cũng hay cũng đẹp là một điều hiếm thấy”. Nguyễn quân giới thiệu qua đôi nét về khả năng sáng tác và sự nghiệp văn chương của tôi để bước qua chứng bệnh tôi mắc phải, và kết luận: “Nghĩ vậy tôi cũng thấy hai tập Giọt TrăngTố Như Thi ra đúng lúc này an ủi ông được nhiều, nhiều lắm”.

Đúng vậy, sự ra đời của hai tác phẩm kia an ủi tôi rất nhiều, mà bài văn của Nguyễn quân là một thang thuốc bổ tinh thần vô giá. Đọc bài của Nguyễn quân, các bạn gần xa mới hay tôi có bệnh ngặt nghèo, kẻ gởi thư thăm, người khuyên nên dùng thuốc này, chữa cách nọ. Có hai ông bạn tôi chưa từng quen biết là ông Đỗ Trọng Lễ, Đông y sĩ ở Châu Đốc, huyện Sơn Tùng, một độc giả của Bách Khoa, gợi cho những phương thuốc gia truyền với những lời khuyên quý báu. Bài văn của Nguyễn quân thật chẳng khác một vòng sóng do đôi chân hồng của con thiên nga gây nên. Vòng sóng ân tình kia vừa nổi lên, trăm nghìn vòng sóng khác nổi tiếp, mỗi lúc một nhiều dần và rộng dần… Nhờ vậy mà lòng tôi trở nên vui, sức khỏe của tôi chóng bình phục.

Trước tình cao quí của Nguyễn quân và các bạn xa gần, tôi không biết nói sao cho xiết lòng cảm kích! Tôi bèn soạn một luật ngũ ngôn gởi tặng Nguyễn quân và nhờ cho đăng lên Bách Khoa để tạm gọi là tạ lòng bạn bốn phương:

Ơn lòng

Trống trải ngày ương yếu
Ơn lòng bạn bốn phương
Trang báo niềm an ủi
Hàng thư phương thuốc thang
Thanh thanh tình đọng mật
Trịu trịu nghĩa chia vàng
Ngước mắt nhìn mây thẳm
Bồi hồi gió tịch dương.

Câu chuyện quanh con mắt mù của tôi trở thành một giai thoại nho nhỏ trong vòng thân hữu, và phiến tê giác của Nguyễn quân trở thành vật gia bảo của gia đình tôi, một trong bốn vật báu gọi là Trường Xuyên Tứ Bảo và tôi đã viết một bài ký để truyền cho con cháu biết yêu quí của báu về tinh thần.[3]

*

**


Nguyễn quân và tôi đối với nhau tình rất thâm hậu, nhưng chúng tôi chỉ gần gũi trong xa cách. Từ năm 1966, ngày mới quen nhau, cho đến năm 1975, chúng tôi gặp nhau chỉ có hai lần! Nguyễn quân thì sức yếu không hay đi xa. Còn tôi, thỉnh thoảng có vào Sài Gòn song nghe nói Nguyễn quân rất quí thì giờ và rất sợ khách, nên không tìm đến.

Quí thì giờ là phải, sợ khách là phải: Đời sống thì ngắn, nợ văn chương lại quá nhiều, cặm cụi viết cả ngày mà đống nợ vẫn thấy cao chất ngất… Và nguồn hứng đang tuôn theo dòng bút mà khách đến thì mạch văn bị đứt ngay. Nối lại, sau khi khách ra về, nhiều khi phải tốn nhiều công sức, có khi phải bỏ hẳn đoạn văn viết dở, viết lại cho toàn thiên, toàn chương khỏi thành chiếc áo vá quàng.

Suy ta ra người. Nên thương nhau phải thương cho bạn.

Nhưng khoảng cuối năm 1972, tôi vào Sài Gòn có việc ở ngót mươi hôm, thỉnh thoảng đi ngang qua khu vực Nguyễn quân cư trú. Khoảng đầu xuân 1972 tôi được tin Nguyễn quân té cầu thang, trật gân mất 3 tuần; rồi Bác sĩ bảo động mạch của quân bắt đầu cứng: Artériosclérose. Bệnh đó không trị hết được vì là bệnh già, ngày nào cũng phải uống thuốc cho tới hết đời… Viết thư cho tôi, giọng văn có hơi buồn:
Trong bốn giai đoạn của đạo Phật, tôi đã đến giai đoạn thứ 3: Cũng là thường tình.

Điều này tôi cũng giống ông nữa: Tuổi này tôi thấy lòng mình dịu hẳn xuống, tuy giọt lệ vẫn như sương nhưng tình đối với gia đình, bè bạn có đậm hơn.

Chúng mình vẫn phải viết chứ, không viết thì buồn chịu sao nổi, nhưng lúc nào vui thì viết, không cần cho xong. Như vậy tâm hồn sẽ thơ thái mà chắc còn sống được mươi năm nữa. Chỉ về Long Xuyên nằm dài dưới bóng mận bóng xoài nửa tháng thôi. Mà Long Xuyên bây giờ cũng ồn lắm… (Thư 4/2//972).

Trước khi vào Sài Gòn, tôi nhận được thư của Nguyễn quân:

Tôi được thư của ông non ba tuần rồi mà hôm nay mới hồi âm được, vì năm nay vận hạn, tôi bị cúm nặng, hết diarrhée thì biến chứng ra nấc cục (ho quẹt) cả tuần, suốt ngày và đêm (già mà bị chứng đó, ai cũng ngại); may mà hôm nay đã hết, nhưng khi cơ thể yếu thì các bệnh vặt, cũ nó kế tiếp nhau quấy rầy mình (như bệnh nhức răng, bệnh trĩ), thành thử có bình phục hẳn thì có lẽ cũng phải cả tháng nữa.

Tuổi già buồn thật! Nhất là lúc đau mới thấy cô độc mà mọi sự là phù du hết…

Từ mười mấy năm nay, đứa con trai duy nhất của tôi ờ Pháp. Năm nay nhà tôi lại qua bên đó với nó, có lẽ còn lâu mới về, cho nên trong lúc đau, càng thấy cô đơn. Hình như nhà văn nào cũng cô đơn và không sợ cô đơn, phải vậy không ông?

Chắc tôi phải nghỉ viết vài ba tháng và cũng chỉ viết vài ba năm nữa rồi thôi… (Thư 2/1/11972)

—————-
[1] Tôi chữa xong bệnh glaucome, bị mất ngủ hàng mấy tháng uống thuốc an thần vẫn vô hiệu, mới sắc rễ cây Chùm Bao uống thay trà, chớ không phải uống thuốc nam trị bệnh đau mắt.
[2] Xem bài Trường Xuyên Tứ Bảo trong tập Ghi Dấu Thời Gian đã hoàn chỉnh.
[3] Trường Xuyên Tứ Bảo là bài ký 4 vật báu của T.X. : Tô Văn Trung toàn tập, Lữ Đường di cảo, Nhánh mận khô, Khúc tê giác của Nguyễn Hiến Lê.

Nhớ đến hai bức thư ấy, tôi tự nhủ:

– Lúc này Nguyễn quân đã tạm nghỉ dưỡng sức, không sợ làm mất thì giờ. Lại đương lúc buồn, khách đến chắc vui lắm.

Tôi tìm đến số nhà 12 / 3C, đường Kỳ Đồng.

Tôi đến có hơi trưa. Một người đàn bà trạc ngoại ngũ tuần, phúc hậu, nói giọng Miền Nam, ra tiếp tôi. Tôi xưng tên. Người đàn bà nói:

– Nhà tôi đương tiếp khách trên gác. Khách đến từ khi sáng sớm, chắc cũng sắp ra về. Xin ông chịu phiền đợi cho giây lát.

Tôi ngồi đợi hàng nửa giờ. Biết rằng khách văn chương hễ gặp nhau, câu chuyện khó dứt nửa đường nửa đoạn, tôi bèn xin cáo và hẹn ngày hôm sau. Nữ chủ nhân dặn:

– Xin ông đến sớm sớm, kẻo lại có khách nữa.

Tôi ra về ngẫm nghĩ:

– Sợ khách mà sao khách lại đông quá thế? Vì sợ mà thành đông, hay vì đông cho nên hóa sợ?

Tôi bật cười rồi nghĩ tiếp:

– Trong thư gần đây, Nguyễn quân bảo “nhà tôi sang Pháp… có lẽ còn lâu mới về…”. Vậy bà nào đây mà gọi Nguyễn quân là “nhà tôi”?

Thì ra Nguyễn quân có đến hai phòng. Bà lớn ở Sài Gòn với Nguyễn quân. Bà nhỏ ở Long Xuyên với vườn tược, thỉnh thoảng quân về thăm. Lúc này bà lớn đi vắng, bà nhỏ phải lên Sài Gòn để săn sóc Nguyễn quân. Tôi bụng bảo dạ:

– Có hai vợ kể cũng tiện lợi thật.

Ngày hôm sau, mặt trời chưa lên quá sào, tôi đã đến 12 / 3C Kỳ Đồng.

Nguyễn quân đứng đợi tôi trước cửa phòng khách, cười nói:

Hôm qua tiếp Toan Ánh và Bàng Bá Lân cho đến lúc người nhà mời ăn cơm trưa mới tiễn khách. Tôi không ngờ có ông dưới nhà! Nếu biết thì mời lên gác cùng nói chuyện thì vui biết mấy.

Tôi cũng cười:

– Nói chuyện đến 4 người thì mất thú. Hai hoặc ba là vừa.

Nguyễn quân tiếp tôi nơi phòng khách, rất niềm nở.

Người cũng như văn, giản dị tự nhiên.

Lần này là lần đầu tiên tôi đến với Nguyễn quân.

Thật khác hẳn với lần đầu tiên tôi đến với Đông Hồ ở Yểm Yểm Thư Trang đường Nguyễn Thái Học. Phòng khách rộng mát, không có câu đối, tranh Tàu, đồ cố ngoạn… như nơi Đại ẩn am… Chủ nhân mặc bộ đồ bà ba trắng, chớ không kimono, và đãi khách chỉ có nước trà thơm chớ không có tháp trầm uốn khói, rượu ngâm mai Hà Tiên như Đông Hồ.

Nguyễn quân nhìn tôi nói:

– Ông Kỷ Dậu, tôi Tân Hợi nhỏ thua 2 tuổi, nhưng coi bộ ông khỏe hơn tôi.

Đối với bạn thân tôi hay “cà rỡn”, toan đáp “đó là tại ông làm dân nước Đằng”, nhưng biết rằng tánh Nguyên quân tuy vui mà nghiêm, nên tôi nói:

– Có lẽ nhờ chịu đựng trong 10 năm kháng chiến chống Pháp ở Bình Định.

Nhân câu nói đó, Nguyễn quân yêu cầu tôi kể lại cho nghe những gì tôi đã thấy tận mắt trong 10 năm ở tỉnh nhà. Tôi say sưa kể, quân chăm chú nghe. Câu chuyện đương nồng thì chợt có khách ở Long Xuyên đến. Tôi liền xin cáo.

Nguyễn quân không cản, nói:

– Trước khi về Nha Trang, thế nào cũng đến nói chuyện một lần nữa nhé.

Tôi xin vâng. Nhưng vì bận lo công việc riêng hết cả thì giờ, nên đành thất hẹn. Tôi không áy náy vì biết rằng Nguyễn quân cũng lượng tình mà thể tất.

Lần thứ nhì tôi đến thăm Nguyễn quân vào mùa thu năm 1974.

Lần này không phải không định trước như lần vào cuối năm 1972.

Nguyên khúc tê giác không dùng chế thuốc được, nhà tôi bảo nên hoàn lại cho Nguyễn quân, chớ không nên giữ vì là vật quí. Tôi thân hành mang đi. Gặp tôi, Nguyễn quân hết sức mừng rỡ và nhận thấy tôi quí khúc sừng, quân bảo tôi giữ lấy khi nào cần sẽ “mượn lại”, Quân lại cho tôi biết:

– Phiến tê giác đó của ông bác tôi, cụ Phương Sơn con rể cụ Lương Văn Can, trong Đông Kinh Nghĩa Thục. Khi Nghĩa Thục bị Tây “bổ”, bác tôi trốn vào đây, định qua Xiêm, sau ở lại tại một miền hồi đó rất hẻo lánh ở ven Đồng Tháp Mười, chờ thời, và chờ hoài cả mấy chục năm. Trong khi đó bác tôi làm thuốc (không ăn tiền). Năm nào cũng có vài thầy đồ Quảng Nam Quảng Ngãi đi bán thuốc, biết danh, ghé thăm, ở chơi một vài ngày và có những thuốc gì quí thường dành cho bác tôi. Vì vậy có thể tin được phiến đó không phải là thứ xấu. Và tê giác tôi cũng nghĩ rằng hạ nhiệt vì ngoại cảm thì rất hay, còn hạ được hư hỏa, đúng hơn là bổ được hư hỏa thì không chắc.

Nhưng có thể thử dùng (khi nào ông lại thấy nhức đầu) có hại gì đâu.

Thật là uẩn khúc ân cần! Tôi hết sức cảm động.

Nhân Nguyễn quân nhắc đến ông bác, tôi liên tưởng đến bà ngoại và bà thân sinh Nguyễn quân đã tả trong Cháu Bà Nội Tội Bà Ngoại và trong bài tựa Đồng Tháp Mười, tôi liền tưởng đến bà thân tôi cùng bà nội của nhà tôi, tôi chạnh lòng, nói:

– Ông cũng như tôi, chúng mình mang ơn các cụ bà nhiều hơn các cụ ông.

– Vì chúng mình mồ côi cha sớm.

– Và cũng vì mẹ chịu cực chịu khổ với mình quá nhiều.

Đoạn đọc cho Nguyễn quân nghe hai tập thơ thường lảng vảng bên lòng tôi và tôi muốn chắp nối cho thành bài mà vẫn không được:

Cảnh có núi sông nhiều thú lạ
Đời không cha mẹ ít khi vui.
Đùm bọc nghĩ thương em trẻ dại
Ấm no thêm nhớ mẹ già xưa.

Nguyễn quân nói:

– Tôi thuộc mấy câu đó đã trên 30 năm rồi. Nay mới biết là của ông!

Nhắc đến cha mẹ, Nguyễn quân cũng như tôi đều buồn. Chúng tôi bèn bước sang địa hạt văn chương. Hết Á sang Âu, chuyện tiếp chuyện, lời nói lời. Thời giờ đứng bay đi, cả hai đều không để ý… Chợt tôi thấy Nguyễn quân che miệng ngáp và sắc mặt hơi tái vì mệt. Nhớ trực lại “chủ nhân vừa đau khỏi” nên vội đứng lên xin tạ từ. Nguyễn quân đưa tôi ra tận ngõ ngoài, vui vẻ nói:

– Có vào, nhớ ghé.

Về Nha Trang tôi viết thư vào hỏi thăm sức khỏe. Trong thư có câu “Tôi ba hoa quá! Tôi đi rồi chắc ông phải uống ít nhất là hai thang thuốc bổ mới lại sức”.

Nguyễn quân đáp:

– Gặp ông lần này tôi rất vui vì biết chắc ông sẽ không còn gì đáng lo về con mắt nữa. Hôm đó đưa ông ra cửa rồi, quay vô coi đồng hồ thì đã 12 giờ; không ngờ ngồi nói chuyện lâu như vậy. Có mệt thật, nhưng uống một viên thuốc an thần, trưa đó ngủ được, hết mệt ngay, không tới nỗi phải uống hai thang thuốc bổ như ông ngại… (Thư ngày 22/9/1974).

Sau ngày Bắc Nam thống nhất, tôi thường đến thăm Nguyễn quân, vì có nhiều thì giờ rảnh hơn trước. Đôi khi tôi đưa cả bạn gái đến.

Nhiều bạn bảo tôi:

– Nguyễn Hiến Lê, tâm hồn khô khan lắm. Không thích nói chuyện với đàn bà. Có nhiều nữ sĩ đến thăm bị ông tiếp một cách miễn cưỡng.

Nghe vậy hay vậy thôi. Chớ tiếp xúc với Nguyễn quân, trong văn chương cũng như trong đời thực tiễn, tôi nhận thấy tâm hồn rất phong phú, nhưng tế nhị và kín đáo, mới trông qua hoặc đứng xa mà nhìn thì ngỡ là khô khan. Và không thích tiếp phái nữ vì có lẽ một là không đẹp, hai là đẹp mà ưa làm dáng làm dóc, ưa khoe khoang, hạng “femmes savantes”[1]. Chớ Nguyễn quân thích nghe chuyện tình, vẫn mơ màng khi đọc những đoạn văn tả cảnh tiên nữ tắm nơi Giếng Tiên, nơi Suối Tiên ở Bình Định, Khánh Hòa, dưới bóng trăng khuya, dưới ánh nắng trưa mùa hạ, và vẫn không ghét câu:

Em ơi, chớ chê anh già

Xưa nay gừng quế ai mà dùng non.


Nghĩ vậy nên đưa bạn gái đến thăm Nguyễn quân, lòng tôi không chút e ngại.

Và người bạn gái tôi đưa đến thăm Nguyễn quân là Chức Thành.

Chức Thành, người Bình Định, nhỏ thua tôi 29 tuổi, có nhan sắc, có tâm hồn nghệ sĩ, biết làm thơ và ham đọc văn của Nguyễn quân.

Thành ước ao được gặp Nguyễn quân từ lâu, nhưng mãi năm 1978 mới có dịp.

Vào khoảng đầu tháng 9 năm 1978, tôi đưa Thành vào Sài Gòn chữa bệnh viêm mũi. Công việc xong, tôi đưa đến thăm Nguyễn quân, và được Nguyễn quân đón tiếp mềm nở. Sau mấy lời giới thiệu của tôi, Nguyễn quân cười:

– Gọi sao đây cho hợp tình hợp lẽ? Xin tạm gọi bằng “cô”.

Thành tỏ lòng ngưỡng mộ của mình, cho biết những tác phẩm đã đọc cùng những chương nào những đoạn nào nàng đã đọc thuộc – nàng nói một cách tự nhiên và lễ độ và không hề có một lời hay một cừ chỉ hé cho biết rằng mình cũng có viết văn làm thơ. Nguyễn quân ngồi nghe với vẻ tươi cười nơi môi mắt, và đáp
những câu hỏi của Thành một cách chu đáo dịu dàng.

Câu chuyện mỗi lúc một thêm vui. Nhưng không nỡ để chủ nhân phải uống thuốc an thần một lần nữa vì khách, Thành cùng tôi xin từ giã sau gần một tiếng đồng hồ qua nhanh.

Về nhà Thành bảo cùng tôi:

– Văn Nguyễn Hiến Lê giản dị nhưng tế nhị, sâu sắc. Mới đọc qua tưởng đã hiểu thấu đáo rồi, song nghĩ kỹ thì thấy còn có những ý nghĩa mình chưa nắm vững, chưa nắm hết. Con người họ Nguyễn cũng thế. Em sánh họ Nguyễn như khóm lão mai mọc bên bờ suối, hoa đang nở thạnh. Nhìn trên cành cội, ngó thì rắn rỏi khô khan, nhưng trông không cằn cỗi mà dịu dàng tươi tắn. Nhìn trên không đã thấy đẹp, nhìn dưới nước, hoa theo sóng chập chờn, lung linh phiếu diếu, càng thêm đẹp bội phần. Thật đúng “văn là người”.

Tôi chép lời phê bình của Thành gởi cho Nguyễn quân.

Nguyễn quân đáp:

– Tôi cảm ơn cô Chức Thành đã nhận xét về tôi khá đúng. Một thiếu nữ, năm sáu năm trước đây cũng đã nhận xét y hệt cô ấy. (Tôi nói khá đúng, cơ hồ chỉ đúng một nửa thôi, vì văn tôi được nhiều người ưa bởi dễ hiểu, tự nhiên, nhưng con người tôi lại có một số người không ưa. Anh nhận thấy vậy không? Và tại sao vậy, anh giảng cho tôi nghe được không?) . (Thư 10 và 30 / 9 / 1978).

Tôi có gởi cho Nguyễn quân xem một số thơ của Chức Thành. Nguyễn quân khen “giọng bình dị, chân thành, tình tứ mà đoan trang…”. Nguyễn quân đề nghị
đổi chữ THÀNH là nên, ra chữ THÀNH là thành thật cho hợp với thơ và người của “cô ấy”. (Thư 10 / 9 / 1978).

Một lần khác Nguyễn quân lại nói:

– Lần gặp cô Chức Thành, tôi có cảm tưởng là gặp một người đàn bà hoàn toàn Việt Nam – kín đáo, hơi e lệ, giản dị, thành thực – chứ không phải một nhà thơ. Nay nghe cô ấy bị biết bao “bổn phận” trói buộc, tôi càng quí. Cô ấy có cái LÒNG THƠ – tôi không dùng chữ tâm hồn – Còn lời thơ thì tôi chắc do anh luyện thêm cho?

Tôi nhớ lần đi đưa đám anh Đông Hồ ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Một nữ sĩ trong một thi đàn nào ở Sài Gòn, lên micro đọc điếu văn – hôm đó có vài ba điếu văn – điếu văn độ hai trang thôi, tôi nghe rõ nhưng chẳng nhớ gì vì nó sáo, không cảm động; rồi khi bà ta – khoảng ngoài 40, nét mặt thanh tú, người mảnh khảnh, có vẻ sang trọng theo lối cổ – khi đó bà ta bước xuống lại gần chỗ Hư Chu và tôi đứng, tươi cười hỏi các bạn gái trong thi đàn của bà: “Các chị thấy bài điếu văn của em được không? Tôi ngó Hư Chu mỉm cười. “Vanité des vanités”[2]. Tôi ngán các nữ sĩ thi đàn từ dạo đó.

Tôi có cái tật xấu: đàn bà mà tài hoa thì càng quí nhưng phải thành thực, nhũn nhặn, kín đáo thì mới là có đức, có hương… (Thư 22 / 10 / 1978)

———————

[1] Tiếng Pháp: Những ngươi đàn bà kiêu kỳ.
[2] Đại ý: thói hợm hĩnh của những kẻ hợm hĩnh điếng Pháp

Thái độ của Nguyễn quân đối với phái nữ, tôi nhận xét đúng. Cho nên tôi lại đưa Thành đến hầu chuyện cùng Nguyễn quân lần thứ hai.

Lần thứ hai cũng nhân vào Sài Gòn khám lại bệnh viêm mũi, năm 1979 cách lần trước chừng ½ năm. Lần trước nói chuyện về văn chương. Lần này Thành kể rõ hoàn cảnh của mình cho Nguyễn quân nghe. Nguyễn quân rất cảm động. Nói chuyện đã gần tiếng đồng hồ, chợt người nhà vào thưa có Bàng Bá Lân và Đoàn Thêm đến thăm. Nguyễn quân vội ra cửa xin lỗi đang có “khách viễn phương”, và hẹn chiều sẽ hội kiến. Thành cũng như tôi đều lấy làm ái ngại, Nguyễn quân cười:

– Họ ở gần. Anh và cô Chức Thành ở xa, năm thuở mười thì mới được gặp.

Rồi câu chuyện kéo dài đến 11 giờ trưa.

Từ ấy mỗi lần viết thơ cho tôi, Nguyễn quân đều có hỏi thăm sức khỏe và đời sống của Thành. Biết Thành thường gặp rủi ro trong đời sống, Nguyễn quân an ủi: “Cô ấy gương mặt phúc hậu lắm, không thể nghèo khổ được”.

Vào khoảng đầu tháng 7 năm 1979, chúng tôi lại có dịp đi ngang qua đường Kỳ Đồng. Lúc bấy giờ Nguyễn quân đã dọn về Long Xuyên. Nhưng Thành vẫn bảo tôi cùng ghé vào nhà.

Tứ bề vắng vẻ. Nhưng sân thềm được quét dọn sạch sẽ. Cảnh vật được trận mưa đêm lùa hết bụi bặm. Lá xanh long lanh lóng lánh dưới ánh mặt trời ban mai. Khóm hoa đuôi chồn lắc lư theo chiều gió nhẹ , tung hương khắp bốn bề . Và hai chậu mai chiếu thủy, nở đầy cành, in bóng xuống nước mưa đọng lòng chậu, trông như hai cỗ bồng đơm bánh bằng tuyết. Thành cùng tôi ngồi nơi tam cấp trước cửa phòng khách. Lẳng lặng nhìn vườn kiểng vừa thanh vừa u.

Hồi lâu Thành nói:

– Nguyễn quân về Long Xuyên chắc nhớ Kỳ Đồng đứt ruột.

Tôi đáp:

– Kỳ Đồng đối với Nguyễn quân cũng như Nha Trang đối với tôi. Về Bình Định tôi vẫn tìm được cảnh đẹp thú vui, thì về Long Xuyên Nguyễn quân cũng không đến nỗi buồn tẻ. Tuy nhớ không sao tránh khỏi…

Khi ra về Thành hái một cành hoa chiếu thủy và một nhánh hoa đuôi chồn làm kỷ niệm.

Tôi viết thư vào Long Xuyên cho Nguyễn quân biết. Nguyễn quân đáp:

– Thật không sao ngờ được rằng biết tôi đi vắng mà vẫn tới. Tôi hơi xúc động. Nhớ người và nhớ cảnh. Chỉ có tâm hồn thơ mới vậy. Mà như vậy thì tịch dương ở đâu mà chẳng vô hạn hảo? (Thư Long Xuyên 27 / 7 / 1979).

Mong được Nguyễn quân hiểu rõ thêm Chức Thành, tôi gởi tặng tập Sông Côn Giặt Sợi của Thành mới hoàn chỉnh xong.

Đồng thời tôi lại giới thiệu thêm hai người bạn gái khác của tôi.

+ Liên Tâm, quen thân với tôi năm 1938 và từ giã Nha Trang năm 1940, một đi không trở lại, chỉ để lại cho tôi tập Sợi Tơ Lòng còn tại cảo.

+ Phụng Lữ, tác giả Vị Hoa Đăng, hiện ở Pháp cùng gia đình.

Hai người bạn gái này, cũng như Chức Thành, là mưa xuân nắng thu giúp vườn lòng tôi nở thành hoa chín muồi quả .

Xem xong ba tập thơ, Nguyễn quân cho biết ý kiến:

+ Vị Hoa Đăng quả có giá trị. Thơ thất ngôn luật bà ấy già dặn, bóng bảy, chuốt lắm; thơ ngũ ngôn luật kém một chút, thơ lục bát hay, gây cảm xúc mạnh hơn thơ luật.

Trong Sài Gòn này trước kia có hai ba thi đàn của nữ, đều là các bà sang trọng lớn tuổi. Tôi không làm thơ nên không bao giờ đến đó, nhưng thỉnh thoảng Hư Chu, Đông Hồ có cho nghe thơ của các bà ấy, tôi thấy sáo, kém xa thơ trong Vị Hoa Đăng. Nếu bà Phụng Lữ ở đây chắc không vào mấy thi đàn ấy đâu, vì thơ của họ không có tâm sự, toàn là thơ thù tạc, khoe khéo thôi. Tôi nghĩ xưa cũng như nay, thi đàn nào cũng vậy. Thơ thì phải cá nhân vào một đoàn thể ngâm vịnh với nhau thì hết thơ ra.

Đọc Vị Hoa Đăng, cũng như khi đọc thơ anh, tôi đánh dấu những bài tôi thích, tới cuối tập đọc mấy bài phê bình của anh và mấy nhà khác, thấy đại thể, những chỗ tôi thích thì anh và mấy ông đó cũng thích. Nhưng tôi thích thêm bài Cũng Say, vì giọng bài này khác những bài kia, tưởng như lạc vào tập thơ này vậy. Bài Tạ Từ tôi cũng thích vì lẽ đó. Còn những bài Tâm Sự buồn, hay thì hay nhưng chiếm đến 8, 9 phần 10 tập thơ, quá nhiều… (Thư 6 / 8 / 1978)

+ Thơ Chức Thành không tô chuốt bóng bẩy như thơ Phụng Lữ, nhưng kín đáo, cảm động mà nhã… Nhưng con người mộc mạc cổ lỗ như tôi, quí thơ Chức Thành hơn thơ Phụng Lữ. Nó Việt Nam lắm… Sông Côn Giặt Sợi là một tập Tình sử của hai tâm hồn với nhau, khác hẳn thơ Phụng Lữ, lại càng khác xa thơ cửa các bà trong các thi đàn ở Sài Gòn này hồi trước, cũng khác rất xa các nữ sĩ trẻ kiểu Tuệ Mai, Hoàng Hương Trang v.v… Tôi thấy hạng Chức Thành nay chắc chỉ có vài người. Họ làm cho tôi nhớ lại không khí Tương Phố, Tản Đà… nhưng mới hơn, và nhớ lại không khí thế kỷ XIX ớ Pháp. (Thư 10 và 30/9/1978)

+ Tôi chưa gặp mặt Phụng Lữ, cũng chưa thấy chữ viết, chỉ mới đọc thơ, nhưng tưởng tượng con người ấy trái ngược hẳn với Chức Thành. Chức Thành tôi thấy đôn hậu lắm, gặp lần đầu tôi không ngờ được là thơ hay đâu… (Thư 29/10/1980).

+ Trong số ba bạn thơ của anh, tôi quí bà Liên Tâm cũng bằng mến bà Chức Thành. Thời đó mới tuổi đó mà thơ già dặn như vậy thật là hiếm, Tản Đà khen là phải. Những bài những câu hay nhất trong Sợi Tơ Lòng, anh và các bạn thơ của anh đã trích dẫn gần hết rồi; tôi chỉ nghĩ đến cất thốn tâm của bà ấy thôi. Tấc lòng bà ấy đôi với anh, cũng như tấc lòng cô Chức Thành đằm thắm lắm mà buồn quá! Anh đã trích ra 6 câu lục bát đem vào bài Tựa đấy. Rồi còn tấc lòng trong bài Tăng Biệt (cặp luận), trong bài Hoa Sen nữa (câu 5). Kín đáo, bí mật… Buồn mênh mông. Sâu sắc nhất trong ba người đấy… (Thư l/12/1978).

Thật là lời vàng ngọc. Ba tập thơ được tăng thêm giá biết bao nhiêu?

Nguyễn quân lại bảo:

“Châu Hải Kỳ muốn chép lại thơ tình sử của anh. Hình như anh ấy được biết khá nhiều tình tiết nhưng chắc không đủ: Kể cũng nên chép, vì khá đặc biệt đấy. Thường thì giai nhân chỉ là nguồn hứng của nhà thơ thôi. Ở anh, họ còn là người giúp anh viết, hướng anh về một thể thơ nào đó nữa. Có thể nói là họ gián tiếp hợp tác với anh, còn anh thì có công chỉ bảo, đào tạo họ. Giản Chi, Đông Xuyên, cả Đông Hồ nữa đều không được cái may như anh. Anh nói “Thơ làm sang và làm thọ cho Tình”. Đúng! Nhưng muốn cho người sau thấy vậy thì phải có người chép lại thơ tình sử của anh mới được. . .” (Thư 14 / 1 / 1979)

Tôi hứa cùng anh rằng tôi sẽ tự chép lấy.

Nghe chị Mộng Tuyết nói rằng tôi có đứa con gái làm thơ khá lắm, anh tỏ ý muốn tôi gởi cho anh một ít tác phẩm, để xem “con công có giống lông giống cánh” không.

Đó là Quách Thị Mộng Hoa, bạn thơ của Chức Thành. Cháu có tập Giếng Tường Vi do Mộng Tuyết đề tựa.

Tôi bèn gởi vào tặng Nguyễn quân một bản, Nguyễn quân khen:

“Thơ của cháu Mộng Hoa khác hẳn thơ của Liên Tâm, Chức Thành, Phụng Lữ. Nguồn hứng rất nhiều, thơ cũng nhiều giọng. Hoài cổ có, triết lý nhẹ nhàng có, có lòng phúc hậu, thương người, rồi tình quê, tình yêu thiên nhiên, tình yêu gia đình… Đọc thơ cháu, tôi đoán đời cháu không khổ đâu.

Chịu ảnh hưởng anh: những vần ngũ ngôn. Mà sao lại có giọng của Đông Hồ và Mộng Tuyết cũng khéo lựa những vần có giọng Đông Hồ để giới thiệu ở đầu bài Tựa. Vườn Trăng Thiếu Nữ, Giấc Mơ Trên Sóng, Giã Gạo Đêm Trăng, Chiều Giang Thôn, Vườn Cau, Dưới Mận (Kín đáo nói về anh)… đều là những bài dễ thương cả.

Xin có lời khen cháu và mừng cho anh chị…” (Thư 1 / 12 / 11978).

 

Có nhiều người nhờ tôi đưa tới thăm Nguyễn quân. Trong đó có ông bạn già Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, một ký giả cỡ lớn thời Pháp thuộc, nhưng im hơi lặng tiếng từ ngày Mỹ thay Pháp ở Miền Nam Việt Nam.

Một lần nói chuyện cùng Nguyễn quân tôi có đề cập đến ông bạn già của sông Trà núi Bút. Nguyễn quân cười:

– Tôi chỉ nghe danh bà Bút Trà chủ nhiệm báo Sài Gòn Mới, và bà Nguyễn Đức Nhuận chủ nhiệm tờ Phụ Nữ Tân Văn ngày xưa. Nay lại nghe anh nói đến một ông mang danh hiệu của cả hai bà. Vậy mối liên hệ với nhau như thế nào?

– Ông bạn không có tình nghĩa gì với bà Phụ Nữ Tân Văn. Nhưng lại là chồng bà Sài Gòn Mới. Những bài của bà đăng trên Sài Gòn Mới là của ông viết, ông làm cốt bà làm bì, nên độc giả chỉ thấy bì chớ không thấy cốt, hóa ra trong làng báo hiện đại có Bà Bút Trà chớ không có ông Bút Trà.

Nhận thấy Nguyễn quân không có mỹ cảm với Bút Trà nên tôi không đưa tới. Còn các bạn khác thì tôi tìm cách từ chối, vì làm mối là một trong ngũ bất trí. Phải tránh. Nhưng vẫn không tránh khỏi:

Mùa thu năm 1980, vào Sài Gòn nghe tin Nguyễn quân ở Long Xuyên đã lên Kỳ Đồng, tôi định đến thăm thì gặp Hồ Yêm, một ông bạn cũ xa nhau đã 15 năm mới gặp lại. Họ Hồ thông chữ Hán, giỏi Pháp văn, tuổi đã cổ hi mà còn ham đọc sách. Nhân nói chuyện về các danh sĩ Miền Nam Việt Nam, họ Hồ hết lời ca tụng Nguyễn Hiến Lê và nói: “Vị kiến sinh bình hận bất tiêu”. Tôi cảm động nói:

– Tôi sắp đến thăm Nguyễn quân đây. Anh đi cùng tôi chăng?

Họ Hồ hoan hỷ.

Tôi giới thiệu họ Hồ. Chủ nhân vui vẻ tiếp khách. Bồ chữ gặp bồ chữ, thật xứng kép xứng đào. Tôi chỉ ngồi gõ nhịp. Nhưng chỉ được nửa giờ thuận buồm xuôi gió. Họ Hồ cao hứng để cái Ta nổi dậy, đem văn thơ mình ra thuyết trình thao thao bất tuyệt? Nguyễn quân tỏ vẻ khó chịu, mỗi lúc mỗi thêm rõ rệt, song họ Hồ không lưu tâm. Tôi đâm ngượng, đứng dậy lấy nón:

– Tôi có chút việc gấp, xin cáo hai anh.

Họ Hồ dừng ngay, cũng đứng dậy, nói một cách tự nhiên:

– Đi đôi về chiếc sao cho phải.

Chủ nhân đưa khách ra đến ngõ , và sau khi bắt tay họ Hồ, nói nhỏ với tôi:

– Ba hoa quá! Không có gan tiếp lần thứ hai. Chưa kịp nói gì với anh cả! Anh ở lại được không?

– Hôm nào sẽ đến.

– Về đây trị bệnh, 5 hôm nữa tôi đã phải trở về Long Xuyên.

Tôi vào Sài Gòn có việc. Việc lo xong thì Nguyễn quân không còn ở Kỳ Đồng.

Chúng tôi đành viết thư cho nhau.

***


Nguyễn Hiến Lê cùng tôi quen thân nhau từ 1966, tình mỗi ngày mỗi thêm đậm đà, nhưng vẫn gọi nhau bằng ÔNG. Mãi đến năm 1977, gọi ÔNG nghe sáo quá, mới đổi ÔNG là ANH. Từ ấy thơ gởi cho nhau nhiều hơn. Lắm thư dài đến 4, 5 trang, đem cả những chuyện “bí mật” của lòng ra nói cho nhau nghe mà không thấy ngượng, không chút ngại.

Ở Nha Trang tôi không có bạn. Tôi sống rất cô độc. Mai chiều vui với máy đánh chữ, mỗi tuần một hay hai lần đến trường cinéma xem cảnh vật trên màn bạc, ít quan tâm đến chuyện lớn nhỏ xảy ra ngoài đời. Lại từ 1975 tôi sống ở trong hũ. Cũng nhờ có thơ của Nguyễn quân mà ánh sáng mặt trời mặt trăng thỉnh thoảng đến với tôi.

Anh còn cho tôi biết rất nhiều chẳng những về mặt văn học nghệ thuật, mà còn về mặt kinh tế, xã hội. Nhờ vậy mà kiến thức tôi không đến nỗi mỗi ngày mỗi cằn cỗi và lụi dần, mặc dù sống trong cô quạnh.

***


Nguyễn Hiến Lê là người học rộng, viết nhiều mà lại khiêm tốn, nên có nhiều bạn. Nhưng anh thường nhắc nhở nhất là:

– Đông Hồ,
– Hư Chu,
– Đông Xuyên,
– Giản Chi.

Đông Hồ và Đông Xuyên là chỗ quen biết cũ của tôi song nhờ Nguyễn quân mà tôi biết được thêm về hai nhà thơ ấy. Hai nhà thơ cùng thích nước (Xuyên Hồ) và hướng mặt trời mọc (Đông), nhưng lại không ưa thơ nhau:

“Thơ Đông Hồ càng về già càng trang sức. Văn thắng chất. Nguyễn quân đồng ý và bảo: “Anh có để ý phòng tiếp khách của Đông Hồ ở Yểm Yểm thư trang cũng như ở Quỳnh Lâm Thư Thất trang hoàng nhiều quá không? Tranh Tàu, tranh anh ấy vẽ câu đối, sách vở, bút nghiên… Văn, nhất là thơ anh ấy cũng vậy: dùng rất nhiều chữ thanh nhã, hình ảnh rực rỡ (ít khi độc đáo “Original”), như chiếc áo gấm lam của anh ấy, đầy hoa… Anh bảo anh ấy có cái phong lưu của cẩm nhung, thược dược. Đúng lắm… (Thư 10 / 6 / 1980).

“Đông Xuyên làm thơ tùy hứng, không hay lựa đề tài: Lời thơ lấy tự nhiên làm quí. Có nhiều khi quá dễ dãi, kém “duyên”. Nhưng ít sáo. Không hay dùng chữ Hán, không hay dùng điển. Nguyễn quân thêm: “Đông Xuyên chuyên làm thơ, có lẽ bắt đầu cùng một thời với anh, cũng được Tản Đà khuyến khích ngay từ buổi đầu, nhưng anh ấy có thói không chịu đọc sách, bảo thi nhân cần gì phải đọc nhiều, lại rất oán Thơ Mới, trước kia không bao giờ chịu đọc Thơ Mới (nay hơi ân hận)”. (Thư 28 / 9 / 1980).

Đông Xuyên thích giản dị, Đông Hồ ưng chải chuốt. Tánh không đồng nên không ưa thơ nhau là phải. Tôi thường nói cùng Nguyễn quân:

Thơ Đông Hồ là hoa thược dược. Thơ Đông Xuyên là hoa huệ. Mỗi thứ có mỗi vẻ đẹp riêng. Chẳng những có con mắt thẩm mỹ mà còn phải có tấm lòng thẩm mỹ thì mới hưởng trọn vẹn thú xem hoa. Chớ “Hoa bưởi hoa ngâu hoa lài hoa lý, anh yêu hoa nào hoa ấy là xinh” thì có phần thiên vị quá.

Về Hư Chu, tôi không quen, chỉ biết qua tập Để Hiểu Thơ Đường Luật, muốn giao thiệp lại không rõ địa chỉ. Đến khi Nguyễn quân cho biết Hư Chu là bạn thân thì Chu đã khuất bóng! (1973).

 

Nguyễn quân cho biết: “Hư Chu làm thơ ít nhưng rất kỹ, rất chú trọng đến bố cục và đến nhạc. Thơ có nhiều giọng: mơ mộng, buồn nhẹ, dí dỏm, nghiêm
trang. Thơ đăng rải rác trong các tác phẩm của anh…”. Hồi Hư Chu mới mất Nguyễn quân có lại nhà, hỏi chị Chu về bản thảo của chàng, thì em ấy chẳng biết gì cả. Tụi con thì còn nhỏ! Cho nên Nguyễn quân chỉ còn nhớ toàn thiên, một bài mà anh thích nhất:

Duyên liêu trai

Phòng vắng chưa nằm đầy giấc mơ
Vụng cười chợt tỉnh có đâu ngờ
Nửa trang kỳ sử hồ lay gối
Bán mặt thu phần quỉ đọc thơ
Hẹn một đời sau âu cũng vậy
Tình trăm năm cũ lại bây giờ
Kìa ai dong đuốc xa dần mãi
Eo óc canh gà những ngẩn ngơ.

Trong bốn bạn kể trên, Nguyễn quân thường nhắc đến Giản Chi nhiều nhất:

“Giản Chi học chữ nho tới 15 tuổi, đậu khóa sinh rồi, chuẩn bị thi hương thì thi hương bãi bỏ, mới qua học chữ Pháp, đậu Diplôme mention Bien[1]. Văn thơ Trung Hoa, anh ấy biết nhiều vì thích môn đó, tôi cho rằng trong Nam này không ai hơn. (Ngoài Bắc tôi không biết, nghe nói còn ít cụ 60 tuổi trở lên, nhưng tuổi đó các cụ cũng quên nhiều hoặc lẩm cẩm rồi).

Thật là duyên tiền định mà chúng tôi gặp nhau khoảng 1957-1958. Nhờ biết nhau nên tôi mới khuyến khích, thúc anh ấy viết về Triết Học và Văn Học Trung Quốc, chứ anh ấy chỉ thích sống theo Lão Trang, không kiên nhẫn biên khảo; Và nhờ anh ấy hợp tác mà tôi mới vững tiến vào khu vực Cổ Học Trung Quốc. Nếu không có anh ấy thì tôi đã hướng về công việc khác rồi, chứ không thể kiếm ai để có thể hợp tác về môn đó, mà một mình viết thì e lầm lỗi, nhất là mệt nhọc lắm. Sự hợp tác của chúng tôi thực có lợi. Khi xuất bản cuốn TƯƠNG LAI Ở TRONG TAY TA tôi tặng anh ấy một bản, anh ấy bảo tôi:

– Nhờ đọc cuốn đó của bác mà tôi bỗng hiểu hai câu thơ này của một thi sĩ đời Thanh:

Nhân sự tự sinh kim nhật ý
Hàn hoa chỉ tác khứ niên hương.

Mà anh ấy tự dịch là.:

Ý mới rút từ kinh nghiệm cũ
Mai già lưu lại chút hương xưa.”

(Thư 2 / 5 / 1977).

“Anh ấy ít làm thơ, thơ có nhiều giọng, nhiều thế, bài nào cũng có tâm sự, đa số là buồn, có bài có giọng hùng. Cảm xúc chân thành, hình ảnh có khi mới mẻ và đôi khi dùng những điển tôi không hiểu. Tôi thích thơ anh ấy hơn thơ Đông Xuyên và Đông Hồ. Tôi chẳng biết gì về thơ, cứ theo ý kiến hẹp hòi của tôi mà xét: nói chung tôi thích những bài như bài Tú Xương gởi Phan Sào Nam, bài Thu Điếu của Yên Đổ nhất, bình dị, hàm súc, cảm động, tự nhiên. Nghĩa là tôi chỉ thấy một vài vẻ đẹp của thơ thôi, chứ không nhận định được hết các vẻ, rồi cứ thành thực trình bày với bạn… ” (Thư l/7/1978).

Chính nhờ Nguyễn quân đứng trung gian mà tôi được làm quen rồi trở nên thân với Giản Chi.

Tôi gặp Giản Chi vào hạ tuần tháng 6 năm 1978. Tôi tin cho Nguyễn quân hay.

Anh đáp:

“Cùng một lúc với thư anh, tôi nhận được thư Giản Chi. Giản Chi cũng nhắc đến anh, bảo “người dễ thương lắm, mới gặp lần đầu anh ấy đã xử thân, nói hết tình cảnh gia đình và nỗi niềm tâm sự”.

Anh có đọc cho anh ấy nghe câu “Tịch dương vô hạn hảo. Chỉ thị cận hoàng hôn”. Riêng anh thì hoàng hôn đâu đã cận, còn ở xa, xa lắm nữa. Tôi thấy sức sống của anh mạnh lắm. Tôi nhỏ tuổi hơn cả, kém Giản Chi 6 tuổi mà cơ thể rệu rạo rồi, hóng bét…” (Thư 1 / 7 / 1978).

Khoảng thượng tuần tháng 9/1978, tôi ghé thăm Nguyễn quân, định rủ anh đi thăm Giản Chi, nhưng anh yếu không đi được. Tôi đi một mình, nhưng vì quên mất địa chỉ nên đến Khánh Hội tìm không được phải bứt rứt mà trở về. Về Nha Trang được ít hôm, tôi được thư Nguyễn quân cho biết:

“Anh về được ít ngày thì Giản Chi lại chơi tôi, nói chuyện về anh. Ảnh bảo: “Quách Tấn làm nhiều thơ lắm, bây giờ có giọng Thiền và thành Nhất Gia rồi đấy”. Tôi bảo: “Nhất gia đích thị rồi. Mà văn xuôi anh ấy cũng hay hơn Đông Hồ. Vậy mà danh không bằng Đông Hồ. Tôi cho là tại ảnh kín đáo, ẩn hơn “Đại Ẩn Am” (Anh có biết Đai Ẩn Am là một bút hiệu của Đông Hồ không (Thư l0 / 9 / 1978).

Tôi nhận thấy Nguyễn quân nặng tình với Giản Chi hơn Đông Hồ, Hư Chu, Đông Xuyên. Anh thường cho tôi biết hoàn cảnh gia đình của Giản Chi:

“Giản Chi hết dạy học rồi, vợ đau, con cũng đi cải tạo như con anh, mà bầy cháu cũng đông, cảnh nhà túng thiếu!” (Thư 5 / 7 / 1977).

“Giản Chỉ lúc này lo chạy gạo (mỗi người mỗi tháng chỉ được phát 1 kí, phải mua thêm 7 đồng 1 kí, mà nhà anh ấy 8 miệng ăn). Rên quá. Bảo tôi bao giờ mới sang quẻ Phục? Và cho hay đêm nằm, mơ mơ màng màng, nghĩ được mấy câu thơ, sáng dậy nhớ được 2 câu:

Hạc kiếp thân này tro giả bụi
Thiên đường sắc nó đỏ hay đen?”

(Thư 18 / 8 / 1979).
Nguyễn quân thường tìm cách giúp đỡ bạn về mặt tài chánh:

Năm 1978, biết gia đình Gỉản Chi lâm cảnh quẫn bách, Nguyễn quân tự ý trao cho người con trai Giản Chi một số tiền đủ cho gia đình (8 người) sống được nửa năm. Mấy năm sau, chuyển được tiền gửi Ngân hàng ngoại quốc về, người con trai Giản Chi đem nộp lại một nửa số nợ, thì Nguyễn quân gạt đi, bảo: “Hãy cứ giữ mà tiêu, sau sẽ hay”.

Ngoài ra, tác quyền về bộ Đại Cương Triết Học Trung Quốc đúng ra Nguyễn quân phải được hưởng 6 phần 10, vì số trang Nguyễn quân viết nhiều hơn Giản Chi. Giản Chi yêu cầu anh “phân minh tài bạch”, nhưng anh không chịu “phân minh quá như vậy”. Cảm lòng Nguyễn quân, Giản Chi viết một bài lục bát, vào một đêm giao thừa:

Niềm riêng

Giấc nghèo trằn trọc mơ xưa
Đời Lương Vũ Đế trận mưa hoa vàng…
Sao nay cuộc sống phũ phàng:
Mốc hôi dăm hạt tập tàng vài manh!
Ba mươi nhớ Đức Sinh Thành
Lấy gì báo đáp tấc tình ba xuân?
Nghe đời mình xót thêm thân
Đời, cậu ve vuốt, mình, vần thê lương.
Dòng thơ ngăn ngắt sao sương
Cái qua mất hút càng vương vấn dài…
Đời xuân, hoa chớm nở rồi
Nhớ câu Yến dực mỉm cười Tương Lai…
Thơ này cúi chép trao ai
Trong cơn Dương Cửu vì tôi cắt vàng.

Viết xong xếp đó, chưa dám đưa Nguyễn quân đọc vì e xúc phạm tấm lòng ưa lối “bố thí li tướng” của anh.

Tình của Nguyễn quân và Giản Chi đối với nhau thật là vừa thanh cao vừa tế nhị!

Ngoài bốn người bạn kể trên, Nguyễn quân cũng thường nhắc đến Vương Hồng Sển.
Họ Vương cùng tôi vốn cũng là chỗ quen biết cũ. Nhưng ít giao thiệp với nhau nên tôi chỉ biết là họ Vương ưa đồ cổ và viết nhiều sách khảo cổ. Khoảng thượng tuần tháng 5 năm 1981, Nguyễn quân đưa tôi cùng Bác Sĩ Nguyễn Chấn Hùng đến nhà họ Vương ở số 9/I đường Nguyễn Thiện Thuật, Gia Định: Một ngôi nhà xưa cất theo kiểu Tàu chứa đầy đồ cổ ngoạn và sách vở. Chủ nhân đón tiếp chúng tôi rất niềm nở và có chụp chung với chúng tôi mấy tấm hình, làm kỷ niệm. Sau đó Nguyễn quân có viết cho tôi một bức thư:

Hôm đó dắt anh và bác sĩ Hùng lại thăm Vương mà không kịp báo trước anh ấy hay; biết anh ấy khó tính, sau tôi phải xin lỗi. Nhưng coi bộ anh ấy không thấy bực mình, tôi phải dắt ra, mà anh ấy nói hoài ra tới cửa ra còn giữ lại nói nữa… Ra tới bến xe lam (cách nhà anh ấy độ trăm thước) thì thấy anh vội vàng leo lên xe cyclo đi đâu. Chắc có hẹn gì, mà chúng mình vào làm lỡ hẹn anh ấy.

Quen rất nhiều người, từ các mệ ở Huế tới các quan Tây quan Ta thời trước, các điền chủ, nghệ sĩ… biết rất nhiều về Miền Nam. Cũng như anh ngồi gõ suốt ngày được (làm thẻ địa danh Nam Việt, viết hồi ký) mà không mệt, chống ba toong đi ra Sài Gòn, kiếm mua sách cũ, bọn bán sách cũ thấy cụ tới thì bu lại: “Ba, ba, con kiếm được cuốn sách để ba coi. Họ chém cụ, nhưng cụ vui vẻ, vì có cuốn họ cho là đắt, chớ cụ thấy lại rất rẻ. Con người đó đặc biệt lắm…
(Thư 24 / 6 / 1981)

Họ Vương từ ngày gặp mặt trở về sau, thỉnh thoảng có gởi thư cho tôi, và có tặng tôi một bộ sách khảo cổ gồm 7 tập, của Vương soạn, rất có giá trị. Gặp Nguyễn quân, Vương cũng thường hỏi thăm tin tức về tôi.

***


Trong các bạn thân, Vương Hồng Sển là người thường đến cùng Nguyễn Hiến Lê hơn hết. Mỗi lần đến là nói chuyện cả buổi. Nguyễn quân nói:

– Anh ấy lớn hơn tôi đến 10 tuổi mà sức khỏe hơn tôi nhiều. Cặp phổi cũng rất tốt, nói chuyện luôn hơi không nghỉ. Nhiều khi tôi phải xin phép nằm lắng tai…

Họ Vương không thấy có bút hiệu.

Bút hiệu Nguyễn quân là Lộc Đình. Nhưng trong làng cầm bút lại ít người biết hiệu của Nguyễn quân, cũng như ít biết tên của Đông Hồ, Đông Xuyên, Hư Chu, Giản Chi.
Đông Hồ và Vương Hồng Sển là người Miền Nam.

Đông Xuyên, Hư Chu, Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê là người Miền Bắc.

***


Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê, người Sơn Tây, tuổi Tân Hợi (1911).

Năm 1934, sau khi tốt nghiệp trường Công Chánh, Lộc Đình được bổ vào làm việc ở Miền Nam. Anh đi đo đạc khắp các miền ở Tiền Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp Mười và thường sống với ông bác là cụ Phương Sơn, một chiến sĩ sống sót của Đông Kinh Nghĩa Thục, ở Long Xuyên.

Đến ngày toàn dân nổi dậy chống Pháp (1945), anh thôi việc, lên Sài Gòn ở và chuyên nghề viết văn.

Anh là người có khí tiết. Không ham danh, không ham lợi. Đời sống thanh cao, phong nhã.

Trong 10 năm kháng chiến chống Pháp, anh không nhận một chức vụ gì của Thực dân. Trong 20 năm dưới chế độ Việt Mỹ, anh cũng không hề cộng tác với Hoa Kỳ hay Chánh phủ Cộng hòa.

Một hôm, Trung tướng Nguyễn Bảo Trị, tổng trưởng Bộ Dân Vận, sai một viên Đại tá tùy viên cầm một phong thư đến nhà Nguyễn quân. Anh hỏi viên Đại tá: “Trong thư nói việc gì?”. Viên Đại tá thật tình nói rằng “Trung tướng mời ra cộng tác.” Anh không mở thư, lễ phép nhờ viên Đại tá đem về hoàn lại cho Trung tướng.

Tổng thống Thiệu muốn tỏ rằng mình là người quí trọng văn nghệ sĩ, mỗi năm phát phần thưởng một triệu đồng cho một văn sĩ hoặc một thi sĩ có nhiều tác phẩm đã xuất bản hay còn tại cảo. Năm đầu tiên, Nguyễn quân được chọn, nhưng anh tìm cách bắn tin trước khi có quyết định của Chánh quyền, rằng anh không nhận. Sau phần thường trao cho Vũ Hoàng Chương.

Còn nhiều việc khác nữa, nhưng đó là hai trường hợp tiêu biểu đã trở thành giai thoại trong giới trí thức Miền Nam Việt Nam dưới thời Việt Mỹ.

Anh viết văn “để sống”. Nhưng để sống bên phần xác là phụ. (Mà ở Việt Nam, từ xưa đến nay có nhà văn nhà thơ nào nhờ tiền nhuận bút, nhờ tiền bán tác phẩm, xuất bản tác phẩm mà nuôi bản thân nuôi gia đình được sung túc?).

Anh viết văn cốt để đem sở học và kinh nghiệm ra giúp cho đoàn hậu tiến. Nhưng gần đây anh có phần chán nản:

Trong bức thư gởi cho tôi ngày 24 / 6 / 1981, anh nói:

– Tất cả cuộc đời của tôi có thể tóm tắt trong hàng chữ này: “Học và viết. Viết để học và học để viết”. Tôi không thích chơi cờ, đánh bài, ít thích hát hỏng, cải lương (chỉ film nào có ý nghĩa tôi mới coi) không có tai thẩm âm, không biết chơi nhạc, không thèm ăn ngon nữa (vì ba chục năm nay bộ tiêu hóa trục trặc), không biết làm thơ nên không biết cái duyên của các nàng thơ như anh, mà các nàng cũng ghét thử lý luận nghiêm trang khô khan (con người cũng khô khan) của tôi nữa. Chỉ còn thích thiên nhiên, cảnh đẹp, thích hoa thơm, vài thứ thôi và thích sách hay mà sách hay thì thật hiếm… Vì vậy chỉ còn cách cắm cổ “Viết như cái máy” (lời độc giả), không thích viết thì cũng phải viết rồi nó sẽ thích – Cũng như anh, tôi VIẾT ĐỂ SỐNG (nhất là lúc này), nhưng anh có nhận thấy rằng mình viết cốt để sống, rốt cuộc là-mình viết suốt đời suốt ngày suốt năm, quanh năm, và thành ra SỐNG ĐỂ VIẾT, vì ngoài ra, có để tìm một cái thú gì khác đâu? Không phải để cầu danh, không phải để làm giàu. Tôi đã ba lần gạt bỏ những cơ hội làm giàu, đã 9 lần gạt bỏ cái danh hão mà người ta tặng tôi. Vậy thì tôi sống rõ ràng là chỉ để viết thôi. Phải không anh? Anh ra sao tôi không biết, có lẽ anh sống còn để hưởng thụ cái gì đó nữa không giống hẳn tôi. Mà như vậy tôi mừng cho anh. Tôi thấy con người Đông Hồ hơi phức tạp. Anh ấy lấy bút hiệu là Đại Ẩn Am, nhưng nhiều lúc anh lại thích paraitre[2]. Cơ quan Văn hóa nào họp thì anh cũng vui vẻ dự. Cái vụ vào dinh Độc lập ăn tết cũng vậy, Cụ còn xin một nhánh đào đem về cắm nữa chứ, làm cho người ta chạy nhốn nháo đi tìm cái cưa để cưa cho cụ một cành! Hay tin tôi chỉ mỉm cười: Ai mà chẳng có những faiblesse[3] như vậy. Tôi vẫn thấy anh dễ thương. Thật tình với bạn bè lắm. Và biết giá trị con người. Tết đó người ta cũng mời tôi dự mà tôi chỉ thấy mệt thôi, nên nằm nhà. Tôi cho sống thì nên có một hướng nhất định, một lập trường vững…”

***

Anh có bệnh thật.

Nhưng đâu phải mới có. Bệnh đối với con người văn chương của anh, chẳng khác gì cỏ đồng đối với lúa. Nhiều chứng bệnh theo quấy rầy anh. Những chứng
bệnh ấy do “bộ tiêu hóa trục trặc ba mươi năm nay” mà ra. Không năm nào anh được hoàn toàn mạnh khỏe.

Anh có hai phòng: Bà cưới trước họ Trịnh, có một người con trai duy nhất, bà cưới sau họ Nguyễn không con. Bà họ Trịnh ở Sài Gòn với anh. Bà họ Nguyễn ở Long Xuyên. Năm 1972 bà họ Trịnh sang Pháp thăm con trai và cháu nội (người con trai ở Pháp đã 20 năm rồi), tính qua một tháng rồi về, nhưng gặp việc không vui trong gia đình người con, phải ở nán lại giúp đỡ con cháu (cháu đứa lớn 6 tuổi, đứa nhỏ 1 tuổi). Bà họ Nguyễn phải lên Sài Gòn săn sóc chồng, cũng tưởng trong vòng một tháng rồi về Long Xuyên được, không dè phải ở nán lại… Rồi cuộc thế đổi thay, bà họ Trịnh không trở về Việt Nam được! Bà họ Nguyễn phải ở lại Sài Gòn với anh.

Thấm thoát đã 8 năm trời!

Không lẽ cứ bắt bà ấy – anh nói – ở đây để chỉ lo cơm nước cho tôi mãi. Năm nay, bà ấy đã ngoài 70, phải cho bà ấy nghỉ, về quê hương hưởng phần ít năm trước khi chết chứ. Về Long Xuyên có họ hàng con (con nuôi) cháu, có bà chị dâu, vừa đông đủ vui vẻ vừa có người sai bảo, giúp đỡ; ở trên này có ai đâu!

Cho nên đầu năm 1980, anh dọn về Long Xuyên với chị. Còn giữ hộ khẩu ở Sài Gòn. Nhà ở đường Kỳ Đồng giao cho một đứa cháu làm công nhân viên coi giùm. Mỗi năm anh lên Sài Gòn 2 lần, mỗi lần ở chừng 1 tháng. Chị họ Nguyễn cũng phải theo săn sóc chồng, bởi anh lên Sài Gòn thường thường chỉ để chữa bệnh!

Anh không được mạnh khỏe, song không nghỉ viết.

———————–

[1] Bằng Thành chung, hạng bình

[2] Xuất hiện (tiếng Pháp)

[3] Yếu đuối (tiếng Pháp)

Từ 1975 trở về trước, anh đã hoàn thành trên trăm tác phẩm, phần nhiều đã hành thế. Từ 1975 anh viết thêm được số nữa. Cuối tháng 8/1980 anh viết xong tập Hồi Ký dày 700 trang.

Về tập hồi ký, anh nói:

– Viết không hứng thú chút nào cả. Tôi lại quá tham lam, thêm nhiều mục về tình hình xã hội trước 1945, hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ của mình… rồi chuyện nhà, chuyện viết văn… tất cả xen kẽ nhau, chẳng ra hình thức gì hết. Nhớ tới đâu viết tới đấy, viết tới phần sau mới nhớ lại một vài việc phải thêm vô phần trước, thêm hoài đặc cả lề, phải dán thêm “cánh bướm” vào; bây giờ vẫn mỗi ngày mỗi thêm trong khi sửa lại. Như vậy người ngoài đọc chắc khó khăn, mà chép lại thì tôi không đủ kiên nhẫn. Với lại chủ ý của tôi chỉ là để cho vợ con đọc thôi; thêm hai đứa cháu nữa để chúng biết qua về thời đại trước, khi chúng chưa sinh.

Thân thế và sự nghiệp văn chương của anh, chưa có sách báo nào viết.

Nguyễn Ngu Ý đã giới thiệu anh trên tạp chí nào đó tôi quên mất, nhưng quá sơ sài.

Khoảng đầu thập niên 70, Châu Hải Kỳ ở Nha Trang đã ra công đọc kỹ tất cả các tác phẩm đã xuất bản của anh, và viết tập truyện ký về anh dày trên 300 trang. Sách đã hoàn chỉnh trước ngày Bắc Nam thống nhất và đã gởi đến anh rồi. Mặc dù Châu Hải Kỳ cùng tôi ở gần nhau và thường qua lại với nhau, song không thấy Kỳ hỏi tôi điều gì về Nguyễn quân, tôi lại không được xem qua tập văn của Kỳ, nên không khỏi e ngại rằng “chưa vẽ được chân dung của Nguyễn quân”.

Nguyễn quân nói:

– Châu Hải Kỳ đọc tôi rất kỹ, đối với tôi rất chân tình. Tập anh ấy biết về tôi, có bốn năm người đọc rồi, ai cũng khen là có công mà người nào cũng nhận xét như anh: chưa vẽ được chân dung của tôi.

Làm sao vẽ được anh ôi! Anh ấy vào đây, gặp tôi có hai buổi, hỏi tôi về gia thế, gia đình, ghi ghi chép chép hết ngày giờ rồi, ăn với tôi mỗi một bữa cơm, biết nhiều về tôi sao được. Văn anh ấy cũng không bằng văn Nguyễn Hữu Ngư.

Châu Hải Kỳ không được ở gần tôi mà cũng không được đọc correspondances[1] của tôi… Chính trong thư gởi cho nhau, chúng mình mới thật thà thành thực tỏ nỗi lòng của mình. André Maurois viết tiểu sử V. Hugo, Balzac, G. Sand, nổi danh là không ai viết bằng, chính là nhờ đọc correspondances của mấy nhà đó, chớ đâu có nhờ đọc tác phẩm của họ. (Thư l0/6/1980).

Về thư, anh cho biết từ 1967, 1968 cho đến 1980 của bạn gởi đến, nhiều quá, bỏ bớt đi từng xấp, chỉ giữ lại thư của bạn văn và một số rất ít của độc giả… Trung bình mỗi tháng anh nhận được non 30 bức, trả lời trên 20 bức. Không đốt đi thì chỗ đâu mà chứa? Trong số thư của bạn văn, xấp của tôi vào hàng dày nhất. Thư Châu Hải Kỳ ít hơn… Thư của tôi, nhiều bức được anh khen là hay, văn có nhiều giọng, ý tưởng có nhiều nét độc đáo. Anh nói:

– Bức thư đầu năm (14/3/1980) của anh dài mà hay, vui mà lẫn buồn, lời đẹp mà ý khoáng đạt. Tôi đọc 2 lần, nghĩ bụng sau mình không còn thấy những bức thư như vậy nữa đâu. Các thế hệ sau dù ở Đông hay ở Tây, không thể có tâm trạng như chúng mình, họ bặm môi hùng hục với ý thức hệ hoặc quay cuồng điêu đứng với vật chất. Rồi tôi lại nghĩ những bức thư của bọn mình giá để lại được thì họ cũng liệng đi, coi làm quái gì. May ra có được vài kẻ muốn tìm dấu vết của thời cũ, kiếm những bức thư như thư của mình.. (Thư 4 / 4 / 1980).

Nhưng rồi lại nói:

– Mình chết rồi, 30 năm sau chắc có người còn nhớ tụi mình. Tôi nghĩ lúc đó thời cuộc tất thay đổi, và họ được đọc những thư mình trao đổi với nhau sẽ thú lắm, sẽ hiểu mình hơn là đọc thơ của anh, văn của tôi. (Thư 10 / 6 / 1980).

Tôi cũng nghĩ như Nguyên quân. Cho nên thư anh gởi cho tôi cũng như tôi gởi cho anh đều giữ cẩn thận và sắp xếp theo thứ tự thời gian. Thư của chúng tôi trao đổi cho nhau, ít nói đến thời sự, mà thường nói về tâm sự và văn chương. Nhờ vậy mà ít bị thất lạc.

***

Từ 1975 đến 1988, tôi sáng tác thêm được 4 tập thơ và 5 tập văn xuôi.

Trong 9 tác phẩm ấy, Lộc Đình để ý đến tập biên khảo về Luật Thơ Đường nhiều nhất.

Đọc xong Luật Thơ Đường, anh liền cho biết rằng là viết có công phu, song quá tỉ mỉ, có khi rắc rối, dễ làm nản lòng người mới học làm thơ. Anh đề nghị rút ngắn lại, bỏ bớt những điểm rườm rà, không cần thiết, sửa cho tác phẩm nhẹ bớt đi, dễ hiểu, dễ nhớ hơn.

Nửa tháng sau, anh đọc kỹ lại một lần nữa, rồi viết thư cho tôi:

– Tôi nghĩ lại:

Anh viết tập này không phải cho người mới học làm thơ vì đọc anh họ không hiểu hết mà lại sinh nản như tôi đã nói.

Anh viết chỉ là để làm cái việc “bàn giao” như các nhà nho trong Nam Phong 60 năm trước. Chắc anh còn nhớ thời đó các cụ Phan Kế Bính, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đỗ Mục v.v… cho rằng thời đã thay đổi, bọn trẻ sẽ bỏ luôn cổ học Trung Hoa, sẽ không biết gì về văn học, triết học Trung Hoa, cho nên các cụ tự gánh trách nhiệm đem những kiến thức của mình diễn ra bằng chữ Quốc Ngữ, để bọn trẻ sau này đọc được; công việc đó là công việc “bàn giao” văn minh cũ cho tụi tân học. Các cụ đã gắng sức làm nhưng làm không có kế hoạch, tổ chức, nên trong 10, 15 năm chưa được bao nhiêu: Việt Hán Văn Khảo của Phan Kế Bính (rất giản lược), ít thơ Đường ít cổ văn, dăm bộ truyện Tàu, bộ Mạnh Tử, Luận Ngữ… Rồi cụ Bùi Kỷ tiếp tục: Quốc Văn Cụ Thể nhưng cũng rất sơ lược, về thơ Đường luật được có mấy trang, phiên âm Truyện Kiều, Lục Súc Tranh Công… Sau tới cụ Trần Trọng Kim mới soạn bộ Nho Giáo có giá trị nhất (ngay các cụ cựu học cũng không thể làm bằng, chớ đừng nói là hơn)… Nhưng cụ Trần đã thuộc lớp nửa cũ nửa mới rồi. Ngô Tất Tố, Nhượng Tống, hơi cựu mà cũng hơi tân, cũng góp được ít nhiều công việc về triết học, văn học Trung Hoa. Về thơ Luật đến bây giờ vẫn chưa có ai “bàn giao” cho bọn tân học, ngoài cuốn Để hiểu Thơ Đường Luật của Hư Chu, đọc vui nhưng còn thiếu sót nhiều (Tôi không được đọc cuốn của Lam Giang Khảo luận Luật Thơ, không biết giá trị ra sao).

Anh là người đầu tiên xét rành rọt, rất kỹ, đủ về thuật làm thơ Luật, như vậy là tiếp tục công việc bàn giao của các nhà trong Nam Phong. Tôi chắc các cụ ấy còn sống cũng phải nhận rằng các cụ viết không hơn anh được, vì không ai chuyên về thơ Luật như anh, kể cả Tản Đà.

Nghĩ vậy, tôi cho rằng phải đọc tập Đường Luật với cặp mắt khác, không phải của người muốn học làm thơ luật, mà của người muốn hiểu một di sản của cố nhân để lại. Sẽ không còn ai làm thơ Luật nữa đâu, sau thế hệ của anh (Con anh cũng bỏ nó rồi); nhưng sẽ có một số người tò mò đọc thơ luật và muốn hiểu cái hay của nó ở đâu, làm sao đạt được cái hay đó, cái dở của nó ở đâu… Và họ sẽ đọc tác phẩm của anh. Giá trị tác phẩm của anh ở đó.

Nếu anh viết tiếp tập II về thơ Đường, thơ Tống, thơ Thanh nữa, thì công trình này của anh chỉ kém một ngàn bài thơ luật của anh thôi, chứ hơn hẳn tất cả các tác phẩm văn xuôi, kể cả hai bộ Nước Non Bình Đinh, Xứ Trầm Hương.

Và đọc lại lần nữa với tinh thần đó, đọc xong tôi thấy những điều tôi đề nghị anh sửa, bỏ trước đây, trái lại nên giữ hết, không bỏ một chút gì, càng nhiều càng tốt bức vẽ càng đủ chi tiết càng rối ren, rườm, càng đúng sự thực, càng quí.

(Thư 10 / 1 / 1981).

 

Nghe lời anh, tôi không sửa bỏ gì hết. Nhưng sức khỏe sút giảm nhiều quá, “không làm được việc nặng”, tôi bèn đọc lại Luật Thơ Đường, bỏ những chỗ thừa, thêm đôi chỗ thiếu, soạn thành tập Luật Thơ sơ Yếu chỉ dày 54 trang pelure đánh máy, bằng một phần ba tập Luật Thơ Đường (147 trang). Soạn xong xếp chung 2 tập lại, gói kỹ lại chờ thiện duyên.

Hai tập thi thoại Hứng Phấn Nâng Hương của tôi cũng được anh đọc kỹ và khen là “viết công phu và rất bổ ích cho người muốn hiểu thơ Hàn luật của mình từ mấy thế kỷ nay, giúp cả cho người muốn làm thơ Luật nữa. Nó bổ túc cuốn Luật Thơ Đường…”.

Anh lại nói:

– Ở nước mình, chưa ai có công nghiên cứu thơ Luật, giới thiệu, phê bình thơ Luật Nôm như anh, mà sau này cũng sẽ không có ai nữa. Ngoài ra anh có công giới thiệu quê hương của anh (Bình Định, và Khánh Hòa quê hương thứ hai) cho Quốc Dân: giới thiệu kỹ từ phong cảnh, danh nhân tới thi ca, ca dao… Đó là hai công lớn của anh, cũng như Đông Hồ có hai công lớn: Phụng sự Việt Ngữ, thúc đẩy người ta trau dồi Việt Ngữ từ 1924-1925; làm cho văn xuôi Miền Nam hóa thanh nhã, “có văn”, như văn xuôi Miền Bắc. (So sánh văn anh ấy viết từ 1925 với văn các cây bút đương thời, như Nguyễn Chánh Sắc… thì thấy một trời một vực);
Anh ấy có công lớn với Hà Tiên… Đông Hồ và anh phải có một địa vị cao trong Văn Học Sử, nếu tác phẩm của anh in hết được. Không in hết được thì cũng có một địa vị đặc biệt rồi… Hứng Phấn Nâng Hương có nhiều bài đọc thú lắm…

(Thư 25 / 1 / 1983).

Lộc Đình không làm thơ và không thích thơ Luật bằng thơ lục bát, song biết tôi “nịch ái” nên thường đem bàn với tôi:

– Trong những lúc nằm võng, tôi nghĩ liên miên. Thơ Luật bằng tiếng Nôm do Nguyễn Thuyên đời Trần làm trước hết. Hồi đó là thế kỷ 13 hay 14. Tôi đoán là cuối thế kỷ này nó sẽ chết. Như vậy là thọ được 6, 7 thế kỷ.
Trần Trọng Kim, khi Nho giáo tàn tạ rồi mới “vẽ lại cái bản đồ” của nó. Thơ Luật cũng tới lúc hấp hối mới có người viết kỹ để chỉ cách làm nó, tức anh (Hư Chu không viết kỹ, đủ như anh). Anh có công với nó cũng như Trần Trọng Kim với Nho giáo. Và tôi viết cho Gián Chi, bảo thơ Nôm Luật bắt đầu từ Nguyễn Thuyên, tận cùng với Trường Xuyên… (Thư 22 / 4 / 1984)

Từ 1932 phong trào Thơ mới nổi dậy đánh đổ thơ Đường Luật, những nhà phê bình thơ cũng như những người ham thơ, hễ nói đến thơ Luật cũng như Luật thơ, phần đông đều có giọng mỉa mai kỳ thị. Tôi chưa gặp được người nào nhận xét, phê phán công bình và thấu đáo như Lộc Đình, trong bộ Trung Quốc Văn Học Sử cũng như trong những bức thư gởi cho tôi.

Công minh. Đó là một đức nữa của Lộc Đình.

Từ năm 1983, Lộc Đình yếu dần, chữ viết đã run, giọng như đượm buồn nản.

Anh nói:

Anh, anh Giản Chi, anh Đông Xuyên nữa thuộc về người lớp cổ, viết thư cho bạn mà rất nắn nót, thận trọng (tôi không biết mỗi bức thư 2 trang lớn, anh viết mất mấy giờ?). Vương Hồng Sen viết cho tôi đều dùng máy đánh chữ và thư nào cũng chỉ có một trang lớn trên 30 hàng thôi. Thư nào, câu cuối chúc tôi cũng viết tay và ký tay. Đông Hồ với tôi thuộc vào lớp sau, ẩu, cứ viết phứa đi. Tôi, đầu thư còn viết chậm chậm, được hai trang rồi, mỏi lưng, ngoáy cho mau xong. Đông Hồ thì luôn luôn nằm mà viết, viết rất tháu, cho nên khó đọc nhất.

Trong thư phần lớn nói chuyện văn chương, thỉnh thoảng nói qua đôi nét về cánh sánh hoạt của đồng bào chung quanh mình: “Trời u ám, mưa vài hột, mưa đầu năm. Cây nính – trước nhà lá rụng nhiều rồi, bắt đều ra lá non: Lại có một gia đình cô giáo tới quét. Củi năm nay đắt quá; gấp đôi năm ngoái, lá nính lại càng quí”; “Rác đổ đống bên đường, mùi hôi nực nồng, một ông già, một đứa bé ngày ngày đến bơi rác nhặt những bao ni lông, những mảnh đồ vụn… “, “Một người bà con khoảng 50 tuổi, bị thất bại ở vùng kinh tế mới Sông Bé, về ở gần thị trấn Long Xuyên, làm ruộng, nuôi heo gà. Nhà ở giữa đồng, cách lộ 5, 6 trăm thước, đi trên bờ ruộng đất sét mấp mô, trơn như trên sông trâu. Cái chòi một mái chỉ có 6 thước vuông, một cái giường, một cái võng. Mẹ và con ngủ trên giường, chồng ngủ võng. Dưới gầm thường là một con heo lớn, một con heo con, chung quanh thường là một bầy gà. Không có bếp, cầu tiêu, nước uống là nước trong cái hầm đào để đắp nền nhà. Họ ước: “Tụi tôi không còn mong gì khác là nuôi con cho chóng lớn lên làm công nhân viên được mười mấy ký gạo mỗi tháng thôi”; Năm nay Long Xuyên mất mùa xoài. Vườn tôi có ba gốc, mỗi năm mỗi gốc trung bình từ 150 đến 200 trái, mà có trái hai đợt, đợt sau ít sai hơn. Năm nay chỉ có một đợt mà cây nhiều nhất được 60, 70 trái, còn hai cây kia chỉ 30, 40 trái. Cho nên xoài mắc ghê gớm một trái xoài cát lớn giá 30 đồng (tức 15.000 đồng bạc cũ)! Vậy mà người ta vẫn mua để cúng! Họ làm cách nào mà có nhiều tiền vậy?”. Vân vân…

Trong thư, anh cũng thường than về cảnh gia đình:

Suốt mấy năm nay, nhất là từ đầu năm 1988, hết người này đau đến người kia đau. Chị Lộc Đình khi không huyết áp từ 12 (maximum) nhảy vọt lên 18 rồi 22? Cả nhà hoảng hồn. Ba ngày sau mới bình thường trở lại. Rồi một đứa cháu bị sốt xuất huyết hơn một tuần, may mà nhẹ, chỉ tốn 2.500 đồng bạc thuốc thôi. Chị ở bên Pháp thì từ 1982 chỉ lo trị mắt: mổ cataracte rồi thì mổ glaucome, hết glaucome lại sanh một bệnh kỳ dị: cornée ở mắt sưng, phải lại Banque des yeux xin một con mắt, lấy cornée của nó làm greffe vào mắt người, tốn kém không bao! Còn anh thì hai tháng liên tiếp, các bệnh vặt cứ thay phiên nhau xuất hiện: Cảm, ho, tức ngực, tiêu chảy, bón, mất ngủ… Hết rồi, trở… Cứ ăn cơm được vài ngày thì lại phải ăn cháo vài ba ngày, ít khi yên ổn được vài tuần…

Tôi gặp cảnh không vui, anh Giản Chi khuyên tôi nên hư tâm tiếp vật. Tôi khuyên lại anh Lộc Đình. Anh nói:

Lời khuyên đó rất đúng. Nhưng anh ra sao chứ tôi thấy chỉ hư tâm được một lúc thôi, rồi lại bị vật nó làm cho mình bận tâm. Mình không phải hạng người tu hành được. Nhưng lúc viết thư này là hư tâm đấy (Thư 1 / 10 / 1983).

Khoảng cuối năm 1983, anh có được một nguồn vui: Chị bên Pháp về thăm anh sau 12 năm xa cách. Anh ở Long Xuyên lên Sài Gòn sống với chị. Nhưng chị chỉ được phép về Việt Nam có một tháng! Sau khi đưa chị trở lại Pans, viết thư cho tôi anh than:

– Không biết bao giờ mới về thăm tôi nữa!

Lời than nhẹ nhàng trong bức thư báo tin ngắn gọn làm rung động lòng tôi đến ứa nước mắt! Nghĩa vợ chồng! Cảnh sanh ly!

***

Chị Lộc Đình sang Paris, anh trở về Long Xuyên.
Tết Giáp Tý, nhằm tiết Tiểu hàn, lạnh đến 21 độ. Anh đóng cửa không tiếp khách, nằm đọc tập thi tuyển Móc Đọng Tàu Cau của tôi. Rồi viết thư cho tôi biết ý kiến:

– Tôi đọc hai lần bài Tựa của anh vì nó hợp ý tôi quá. Năm năm trước tôi cũng làm công việc anh làm: lựa những bài văn của tôi mà tôi thích. Lựa xong, chép 2 bản, rồi cho một ông bạn hay (chứ không đưa cho anh ta coi). Tập đó nhan đề là ĐỂ TÔI ĐỌC LẠI. Anh bạn hỏi: Sao không đề là Văn Tuyển của Nguyễn Hiến Lê (do chính tác giả tuyển)? Tôi cũng đáp lại đai ý như anh: Trong số những bài tuyển có nhiều bài chẳng hay gì nhưng tôi thích thì tôi chép lại để tôi đọc lại. Chứ hy vọng gì in được mà mong có độc giả. Vả lại, bài tôi thích không chắc độc giả đã thích; mỗi độc giả có một sở thích riêng nữa; mà chính tôi, lúc này tôi thích, lúc khác tôi lại không thích; thế thì gọi là văn tuyển sao được.

Một điểm nữa giống anh: anh sắp theo thứ tự thời gian, tôi cũng vậy.

***

Anh đã biết tôi rồi: tôi đọc ít thơ Luật lắm, không làm thơ cũng chẳng nhớ Luật thơ, càng không thích những luật chi li, gò bó của thơ, cho nên đọc thơ luật cũng như đọc các thể thơ khác, hễ bình dị, chân thành, cảm xúc được là tôi quí. Tôi lại dốt điển, rất sợ những điển ít thông dụng, thành thử công việc nhận định thơ anh, anh Giản Chi làm thì hợp nhất. Tôi xin anh coi những hàng chép dưới đây chỉ được mỗi một điều là chân thành thôi.

Như tôi đã có lần thưa, những bài thơ của anh mà tôi thích là những bài giản dị, tự nhiên mà cảm xúc mạnh, như bài Về thăm nhà Cảm tác, Canh khuya, Tỉnh giấc, Đá Vọng Phu, Lữ Cảm, Đêm Thu nghe Quạ kêu, Ông Thích Chi, Trời Đông, Trơ Trọi…

Từ thời kháng chiến, thơ anh xét chung, bình dị hơn thời trước có lẽ vì thời cuộc. Tôi thích Lánh cư, Tản cư, 4 câu đầu bài Lữ Thứ, Rừng Phú Nhiêu, Đồi An Lão, Nhớ Tản Đà, Xí xóa, Đìu hiu, Cảm tác, Đăng Quang, Gươm Mài Hận, Đêm giường bệnh, Tướng Tá , Viếng Lăng Mai Xuân Thưởng, vân vân…

Thời thống nhất đại khái cũng như thời trên. Nhiều tâm sự. Cảm động, buồn man mác. Nhưng chắc anh đã bỏ nhiều bài? Chỉ bài cuối là vui… (Thư 14/2/1984).

Đọc xong Móc đọng Tàu Cau của tôi rồi anh đọc sang Tình Sử.

Đọc bài Đề Tích Sở Kiến Xứ của Thôi Hộ:

Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong

Anh chép bài dịch của Phan Thế Roanh trong Điển Cố xuất bản năm 1954, và bài dịch của Hư Chu trong Tình Sử xuất bản năm 1973, ra cho tôi xem và hỏi bài nào hơn:

Cửa này hôm trưa cũng hôm nay
Mặt ngọc hoa đào ánh đỏ hây
Mặt ngọc đi đâu mà chẳng thấy
Hoa đào cười gió hãy còn đây
(Phan Thế Roanh)

Năm ngoái hôm nay trong cửa ấy
Hoa đào cùng ánh mặt ai hồng
Mặt ai nay biết tìm đâu thấy
Riêng vẫn hoa đào cột gió đông
(Hư Chu)

Tôi liền chép gởi vào anh một bài của Bùi Khánh Đản dịch theo nguyên thể, 2 bài của Trần Trọng Kiên và Trần Trọng San dịch theo thể lục bát:

Năm ngoái ngày này dưới cánh song
Hoa đào ánh má mặt ai hồng
Mặt ai nay biết tìm đâu thấy
Chỉ thấy hoa đào trước gió đông
(Bùi Khánh Đản)

Hôm nay năm ngoái cửa cài
Hoa đào ánh với mặt người đỏ tươi
Mặt người chẳng biết đâu rồi
Hoa đào còn đó vẫn cười gió đông
(Trần Trọng Kim)

Cửa này năm ngoái hôm nay
Hoa đào phản chiếu mặt ai ửng đào
Mặt người giờ ở nơi nao
Hoa đào vẫn đó cười chào gió đông
(Trần Trọng San)

Và nói bỡn cùng anh:

– Cả 5 bài thơ dịch đều là 5 bức ảnh do Diễn Thọ vẽ Chiêu Quân dâng cho vua nhà Hán. Người dưới hoa đào, nếu đọc được chắc không đến nỗi tương tư mà chết, và nếu Thôi Hộ đọc được chắc phải chết lần thứ hai. Cũng may đã có cụ Nguyễn Du cho hương hồn Thôi Hộ cùng bọn ham thơ của chúng ta thấy rằng Thơ Việt không nhượng thơ Trung Quốc:

Trước sau nào thấy bóng người

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.


Đó là cuộc vui đầu năm của chúng tôi đưa đến cho nhau.

 

Ở Long Xuyên, ba ngày Tết thì lạnh 21 độ. Sau tết lại nóng kinh khủng, cả ngày nóng đến 34 độ. Mà hễ nóng thì tai anh ù, ăn không được, ngủ không được. Suốt ngày chỉ có buổi sáng sớm là mát. Khoảng 6 giờ sáng, anh ra sân đứng làm thâm hô hấp trước hai gốc mai chiếu thủy.

Hai gốc mai đó là của chị Lộc Đình trồng. Trồng xuống đất chứ không trồng trong chậu, cắt xén thành 4 tầng; mỗi tầng, mặt trên là lá xanh non, có cả trăm cành nhỏ, từ những kẽ lá mọc ra những chùm 5, 6 cái bông 5 cánh trắng mà chùm nào cũng rũ xuống đất, thành 1 lớp hoa trắng ở dưới một lớp lá xanh. Mỗi ngày nở không biết mấy trăm bông và rụng cũng không biết mấy trăm bông. Mặt đất đầy những ngôi sao trắng. Hương thơm ngất và mát tỏa khắp sân. Như vậy trong hai tháng.

Trước hai gốc mai, anh làm 30 thâm hô hấp và 30 cử động 2 cánh tay. Anh thấy tỉnh táo và nhẹ người bằng tắm nước lạnh. Anh gọi là “tắm hương mai”.

Ngoài cái thú “tắm hương mai”, anh còn cái thú đi lang thang trong vườn để tìm hương xoài, hương cau, hương bưởi mà nhớ lại hồi mới về Long Xuyên (đã 50 năm rồi), để nghe chim hót dưới ánh nắng dịu độ nửa giờ rồi bay đi, đi đâu không biết…

***


Nhưng thú vui của cảnh chỉ làm nhẹ nỗi buồn của lòng trong giây lát thôi.

Anh hỏi tôi:
– Anh có thấy bao nhiêu đắc thất, thăng trầm trong trên nửa thế kỷ của tụi mình như một giấc kê vàng không? Tác giả nào đặt được ngụ ngôn đó thật là thiên tài. Phương Tây tôi không thấy có truyện nào như vậy. Tôi thường nghĩ giá tôi không viết được ít cuốn sách thì đời tôi thật vô nghĩa. Nhưng rồi lại nghĩ rồi đây sẽ thấy ngay những cuốn sách đó cũng vô nghĩa nữa!

Nhắc đến bạn bè, anh nói:

– Không nhà thơ nào số tốt như Đông Hồ. Sống thì phong lưu, nổi danh sớm, chết thì thật đẹp; chết trên tay học trò trong khi giảng bài ở Đại Học. (Lương Khải Siêu bảo học giả chết ở giảng đường như võ tướng chết ở sa trường. Vinh dự ngang nhau mà sướng hơn nhiều). Rồi bây giờ, Mộng Tuyết lại hốt cốt chồng đem về núi Tô Châu ở Hà Tiên, chôn gần mộ tổ tiên, trên một chỗ nhìn xuống Hồ, Động, nghe nói cảnh đẹp lắm. Mộng Tuyết được nhiều giúp đỡ, nên được phép chở cả cái quan tài bọc kẽm về Hà Tiên, chứ người khác thì phải phá quan tài, chỉ được đem cốt đi thôi. Tại mộ mới, cũng dựng bia khắc hai đôi câu đối Nôm của Giản Chi làm. Đám ma linh đình, người đi đưa rất đông. Mộng Tuyết còn tìm hoàng lan trồng bên mộ nữa. Đông Hồ tốt phước quá. Ấy là chưa kể việc anh ấy mới nằm xuống, vợ con lo xuất bản tất cả những bản thảo còn lại của anh ấy!

***


Tôi nới bỡn cùng anh:

– Anh Đông Hồ sanh phùng thời, tử phùng thời, tự hậu diệc phùng thời”. Thúc Giạ Thị chỉ sướng lúc sống. Lễ sánh điếu rất linh đình do bạn bè tổ chức năm 1951. Nhưng đám tang năm 1961 lại có phần đơn giản, người thân yêu phần nhiều đều ở xa… Còn bọn mình sống như thế này, chết như thế nào? Chết rồi sẽ ra sao?

Anh đáp:

– Nghĩ tới làm quái gì. Nghĩ: Thời thay đổi, tâm trạng mình cũng thay đổi mau quá. Tôi chưa có đứa cháu nội trai nào, con tôi đã ly dị mà cũng không muốn tục huyền. Tôi chẳng buồn. Cái việc có con cháu nối dõi không thành vấn đề nữa… Tôi tính chết thì hỏa táng cho con cháu đỡ phải đi thăm mộ. Giỗ các cụ, tôi còn sống thì còn cúng, chết rồi thì thôi. Chẳng ai cúng tôi, tôi cũng chẳng buồn… Sa đọa quá rồi?

***


Việc hỏa táng, anh nói đi nói lại lần này nữa là 3 lần. Lần thứ nhất năm 1980, nhân tôi tin cho anh biết tôi đựng xong bia mộ cho ông thân bà thân tôi, anh nói:

– Anh dựng bia mộ cho hai cụ giản dị như vậy là phải. Mộ má tôi ở Hà Đông bị thất lạc rồi. Mộ ba tôi còn nhưng đã phải dời vào một nghĩa trang chung cho cả mấy làng, chớ không còn ở ruộng nhà ở Sơn Tây nữa. Còn nhiều người khác đã bị bạt nấm.

Con cháu tôi ở cả nước ngoài. Tôi chưa biết chết rồi nên chôn hay nên thiêu. Chôn thì ở Long Xuyên này chỗ nào mùa nước cũng lụt, thiêu thì ở Long Xuyên không có lò thiêu. Nhưng tôi không buồn về điều đó. Biết đó là luật trời rồi.

Năm 1983 nhân đọc câu:

+ Vị qui tam xích thổ, nan bảo bách niên thân,
+ Dĩ qui tam xích thổ, nan thủ bách niên phần.

Anh bảo tôi dịch sao cho đàn bà không biết chữ cũng hiểu được ý nghĩa. Tôi dịch:

+ Chưa về ba thước đất, trăm năm khó giữ vẹn thân.
+ Đã về ba thước đất, trăm năm khó giữ mồ.

Anh cười:

– Sống không yên, chết cũng không yên! Cho nên chết thì hỏa thiêu là tiện nhất.

– Còn lúc chưa chết?

– Thì theo thuyết của anh “Đời còn vui được ta thì cứ vui”.

Từ đầu năm 1984, anh thường đau yếu, nét chữ viết đã run nhiều, nhưng giọng văn không buồn lắm và khí văn còn mạnh.

Anh là người đa văn, đa bệnh nhưng chỉ bệnh thường chứ không có bệnh nan y. Và trong lúc anh đau yếu, anh nghỉ viết văn chớ vẫn xem sách, xem lại bản thảo của mình, duyệt giùm bản thảo của bạn. Vì vậy nên theo lệ thường, mỗi lần có tác phẩm mới tôi đều gởi vào anh.

– Đầu thu gởi tập thi thoại Hứng Phấn Nâng Hương thứ II của tôi.

– Giữa thu gởi tập lịch sử Nhà Tây Sơn của con tôi là Quách Giao.

Lúc ấy anh đã lên Sài Gòn để chữa bệnh, khi nào thật mạnh rồi anh mới về Long Xuyên. Anh ăn kém, ngủ ít và chẳng muốn vận động, chỉ nằm suốt ngày, bạn bè ít tiếp và không dám tiếp lâu. Trĩ cũng đau. Anh đau bệnh trĩ (tái phát), ho, loạn nhịp tim v.v…. Chị đau bệnh giaucome phải mổ! Lại bị huyết áp cao. Cả hai vợ chồng uống thuốc Tây có, thuốc Bắc có. Nhà thì không có ai mà cả vợ chồng đều đau, thật lúng túng!

Đau thì đau, anh cũng ráng đọc hai tập văn tôi gởi đến, “nếu không thì không yên tâm”. Đọc rồi viết thư cho biết ý kiến:

“Về Hứng Phấn Nâng Hương: Tập này anh viết công phu lắm. Những người đọc “Đường Luật” nói về Thi pháp của anh, nên đọc tập này để bổ túc.

Coi mục lục tác phẩm của anh, tôi ghi ở trang cuối tập thi thoại: thật siêng năng và phong phú. Riêng về việc dạy làm thơ luật, anh có tới 4 tập!”.

Về tập Nhà Tây Sơn của Quách Giao, anh viết:

“Tập Nhà Tây Sơn này viết kỹ lắm, nhất là:

– Nguồn gốc Tây Sơn Chương 1, 2,

– Anh hùng nghĩa sĩ phò tá Tây Sơn – Chương 4,

– Cảnh nứt rạn trong Nhà Tây Sơn viết rất rõ – Chương 10,

– Quang Trung đại phá Mãn Thanh đọc thấy hồi hộp và khoái – Chương 13,

Trần Quang Diệu chiếm thành Bình Định – Chương 20,

– Đối với nhà Tây Sơn.

Chê nhà Nguyễn đúng đấy, nhưng nên nương tay với họ một chút, đừng đạp thêm nữa, vì ở trên đã đập họ nhiều quá rồi… “ (Thư 14/8/1984).

Được anh khen chúng tôi hết sức sung sướng. Sách không cần ra đời, vì “viết mà đạt được ý và có người hiểu mình” là không uổng công sức, xuất bản được hay không là việc phụ.

***

Hai bức thư 6/7 và 14/8/1984 cách nhau 1 tháng 8 ngày đều viết ở Kỳ Đồng. Anh lên Sài Gòn vào trung tuần tháng 6/1984: Gần hai tháng điều trị mà bệnh chỉ giảm phân. Nét bút của anh đã yếu; viết lại sai nhiều phải sửa đi sửa lại, nhưng lời lẽ vẫn sáng suốt, khoan hòa. Tôi yên tâm. Tôi lại được thư anh Giản Chi cho biết:

– Tôi vừa thăm anh Lộc Đình. Bệnh anh ấy mới đỡ chứ chữa khỏi hẳn.. Tuổi già, người suy nhược, phải tẩm bổ nhiều. Mỗi ngày một thang thuốc Bắc, sáu bảy trăm đồng. May, anh ấy còn đủ điều kiện.
(Thư 25/9/1984)

Để cho Lộc Đình yên tĩnh mà dưỡng bệnh, tôi thưa viết thư cho ảnh (Tánh ảnh, hễ được thư bạn là lo hồi âm, bệnh nặng thì thôi, chứ cầm bút được là “không nỡ để bạn trông đợi”). Tôi thường hỏi thăm tình trạng sức khỏe của anh nơi Giản Chi. Đầu tháng 11/1984, Giản Chi cho biết:

– Lộc Đình vẫn đau. Vẫn phải vừa đi châm cứu vừa uống thuốc Bắc. Bệnh chuyển chậm hơn… thư. Anh biên thư thăm Lộc Đình đi. Thư anh gởi cho tôi kỳ rồi đi nhanh – triệu chứng bệnh Lộc Đình cũng sẽ noi gương mà chuyển mạnh. (Thư 3/1/1984).

Lúc ấy tôi bị đau con mắt. Con mắt hư thì nhức. Con mắt lành thì mờ dần. Nha Trang không chữa khỏi tôi phải về Qui Nhơn. Vừa trở về Nha Trang thì được thư Giản Chi, tôi liền viết thư ngay cho Lộc Đình. Thư tôi viết ngày 20/11/1984, đến Kỳ Đồng vào cuối thượng tuần tháng 12/1984. Anh phúc:

Anh lại đau con mắt kia nữa? Phải bệnh glaucome không? Tôi nhớ hồi đó, có một người khuyên anh mổ con mắt đau rồi thì nên mổ luôn con mắt lành đi, vì thế nào nó cũng bị lây. Đã trên 10 năm rồi, bây giờ nó mới bị lây sao?
Nhà tôi cũng bị Glaucome (đông y gọi là một thứ thiên đầu thống), mổ hơi trễ nên chỉ cứu được từ 1/3 đến 1/2 con mắt đau thôi. Nằm bệnh viện St Paul không tốn kém bao nhiêu. Nhà tôi xin mổ luôn con mắt kia, họ coi rồi bảo phải đợi khi nào nó nhức thì tức tốc lại họ, họ mổ cho, có thể cứu được 8, 9 phần 10.

Riêng tôi thì suy nhược toàn bộ; cơ quan hô hấp, tiêu hóa, tuần hoàn, bài tiết, thần kinh… đều suy hết. Ông lang bảo phải uống chừng 100 thang; tôi uống được 30, 40 thang rồi, lại châm cứu nữa cũng đỡ được một phần. Chủ yếu, theo các bạn là phải nghỉ ngơi hoàn toàn, đọc sách tiêu khiển thôi, nghỉ viết, không suy nghĩ nữa… Nhưng như vậy thì biết làm gì cho hết ngày anh? Học đánh cờ chó với con nít, hay đánh đáo, đánh bị với chúng?

Khoảng 1/2 tháng nữa chúng tôi về Long Xuyên, chưa biết bao giờ mới lại lên… (Thư 11/2/1984).

Thư đến Nha Trang sáng thứ bảy 22/12/1984, nhưng tôi đi vắng, sáng Chúa nhật 23 mới đọc.

Tôi đọc vừa xong, bức thư còn nằm nơi tay thì Châu Hải Kỳ đạp xe đạp tới, hớt hải nói:

– Anh Lê mất rồi! Mất khi hôm. Tôi mới được tin khi sáng.

 

Tôi sửng sốt! Bức thư rời tay lúc nào không hay. Khi lấy lại bình tĩnh thì Châu Hải Kỳ đã đi mất! Không biết anh mất ở Sài Gòn hay Long Xuyên, tôi liền đánh điện tín cho Giản Chi:

– Lộc Đình mất chúng ta mất nửa buồng gan. Không biết gia đình ở Kỳ Đồng hay Long Xuyên. xin nhờ anh chuyển giùm lời phân ưu đến chị Lê và tang quyến.

Trong thư ngày 11/12/1984 của anh không có dấu hiệu gì báo trước sự vĩnh biệt, nét chữ của anh lại có phần tươi hơn nét chữ trong hai bức thư 6, 7 và 14/8 nữa kia. Ai ngờ!

Chín mười năm nay tôi như chiếc thuyền nan trên con sông “vận hạn”, hết sóng dập gió dồi, đến các bồi nước cạn. Nhờ có Lộc Đình, Giản Chi, Nguyễn Đồng, Quách Tạo làm trụ tinh thần cho con thuyền tôi tồn tại. Nay gãy mất một trụ rồi! Đau xót biết chừng nào!

Tôi khóc:

Người già hạt lệ như sương

Mình già hạt lệ lại thường như mưa.


Gần một tháng sau ngày anh tạ thế, tức gần Tết Ất Sửu (1985), tôi mới nhận được thư anh Giản Chi cho biết rõ về những ngày cuối của Lộc Đình:

“Tiếp được thư 12 / 12 / 1984 của anh, chưa kịp trả lời, thì tim gan tôi rối bồi trước cái chết bất ngờ của Lộc Đình xảy ra đêm 22 / 12 / 1984 tức Mồng Một tháng
Chạp năm Giáp Tý.

Chủ Nhật, 16/12/1984, lúc 16 giờ, tôi còn trò chuyện với ảnh ờ Kỳ Đồng. Ảnh bị cảm, hơi sốt, nhưng khác với mọi lần là thấy mệt và khó thở. Mọi lần tôi thăm ảnh, bao giờ ảnh cũng ngồi dậy, mặc dù tôi mời ảnh cứ nằm cho. Nhưng lần này, tôi mời thì ảnh miễn cường, nghển lên một tí rồi đành nằm bệt! Tôi nói với ảnh: “Anh mệt nhiều, nhưng tinh thần vẫn tốt”. Anh khẳng định nhận xét của tôi: “Phải, tinh thần tốt, không sao”, và thêm: “Năm nay tệ quá, nhà tôi mổ mắt, tôi thì lệt bệt, phải đi phải lại hoài, Thầy tử vi bảo già mà hạn gặp Đào hoa Hồng loan thì khó qua, phải không?” Tôi đáp: “Theo tôi nghiệm thì không nhất thiết như thế. Vả lại còn có một tháng 14 ngày nữa là hết năm hạn của anh rồi”. Tôi yên trí ra về, định Chú nhật sau trở lại, thì sáng Chủ nhật sau 23, chưa kịp đi, Lê Ngộ Châu (Chủ nhiệm Bách Khoa) cho con cấp báo tin dữ. “Anh Lê tối qua được đưa vào bệnh viện An Bình và đã mất lúc 21 giờ”. Tôi đến thì đã nhập quan rồi. Chị Lê nói: “Anh ấy dặn: Tống táng thật đơn giản, không cáo phó, không nhận phúng điếu và cấm lạy. Thiêu ngay”. Chị Lê theo đúng lời dặn: Lễ hỏa thiêu cử hành ở Lò Thủ Đức vào lúc 9 giờ 15. Tuy không có cáo phó, mà các bạn thân vẫn đủ mặt: Người nọ thân chinh phi báo người kia. Ông già 83 tuổi Vương Hồng Sển cũng có mặt, chỉ thiếu mỗi Đông Xuyên mệt (cho hai con gái lại dự đám). Thiêu xong vào khoảng 14 giờ. Cốt mang về nhà riêng Kỳ Đồng, chứ không về chùa.

+ Điện tín của anh, tôi đã nhận được sáng 24 / 12 và đã cho người (con gái lớn của tôi) mang lại trao tay chị Lê.

Đúng như anh nói trong điện tín: “Lộc Đình mất, chúng ta mất nửa buồng gan”. Trước quan tài, không biết ngượng trước mọi người, tôi khóc nhiều quá, không sao cầm được những dòng lệ già vốn đã khan rồi. Ngay bây giờ, đang viết thư anh, tôi cũng muốn òa khóc. Thương người vừa quá cố, thương cho chính mình, thương chung cho kiếp người:

Cái thân những khổ trăm vành khổ
Kiếp sống nào không một chữ không.

Đọc Phật nhiều, hiểu lẽ Sắc, Không, tôi cứ tưởng mình có thể thản nhiên trước Đại Sự Sinh Tử. Lâm sự mới biết là mình chưa thật “ngộ”, mình vẫn tự huyễn, chả thua gì ai. Cho đến phút này đây, tôi vẫn chưa thật hết bàng hoàng, anh ạ…”
(Thư 26/12/1984).

Đọc thư anh Giản Chi, tôi khóc lớn!

Tết Ất Sửu đến. Nhớ lại năm nào cũng ngồi viết thư nói chuyện tết với nhau, lòng tôi nỗi buồn thương không sao nén được!

Bốn trụ tinh thần gãy một rồi
Thương lòng nhau quá Lộc Đình ơi!
Còn đâu những bức thơ đầm ấm
Che bớt phong sương lúc trở trời
Quạnh quẽ non xa gìn sự nghiệp
Bẽ bàng nắng xế đọng thư trai
Xuân về thêm nặng canh thương nhớ
Lạnh thấm nguồn nương bóng lão mai

Thơ cũng như nước mắt làm dịu dần nỗi buồn thương.

Chép thơ gởi cho Giản Chi. Cách hai ngày sau, tôi tiếp được thư Giản Chỉ. Thì ra thư anh gởi ngày 27/12/1984, một lần với bức thư 26/12/1984 nói về đám tang của Lộc Đình. Trong thư này có đoạn:

“Đêm qua nằm nghĩ vẩn vơ, nghĩ rằng chết như Lộc Đình vậy mà sướng. Sống như bọn mình khổ quá, giày vò. Cứ phải mài cặp mắt đau trên trang giấy để quên, để khuây khỏa! Để vẫn không hết nhọc nhằn, buồn rầu! Lộc Đình mất còn được chúng mình khóc. Đến lượt chúng mình, văn hữu nào sẽ khóc chúng mình đây? “Bè bạn lá vàng ngày mỗi rụi”! Buồn quá anh ơi! Tôi sực nhớ một câu thơ nôm hình như của Hạc Thành Hoa:

Nụ hồng đã rụng trong mưa
Mùa bong bóng vỡ bây giờ là đây
Trong hồn đã vắng cơn say…

Di chúc riêng của Lộc Đình có khoản: “Không nhận phúng điếu”, tôi đành ngâm thầm câu đối khóc ảnh:

Tảo thành bất hủ danh sơn nghiệp
Thống khốc nan năng mệnh thế tài”[1]
(Thư 27/12/1984).

Sau khi nhận được bài thơ của tôi, Giản Chi phúc:

“Bài thơ khóc Lộc Đình thành thực. Tuổi già như bọn mình không nên để cho lòng ấp ủ nỗi buồn thương quá lâu. Tôi đã đẩy lùi cơn khủng hoảng tinh thần bằng thiền định. Vì bận tọa Thiền, tôi ngừng dịch Vương Duy trên một tháng rồi… Tự hẹn sẽ trở lại với Vương trong mười bữa nữa: Còn nhiều việc phải hoàn tất mà tuổi thì cao rồi. Con người Lão Trang trong tôi có lúc đã thấy nao nao lo, nhất là sau chuyến ra đi của mấy người bạn đồng tâm, đồng chí, cỡ Lộc Đình. Trong tâm trạng ấy, tôi cố níu lấy nàng Thơ, mà nàng làm sao dạo này khó tính quá. Đành than suông:

Gieo neo hết thác rồi ghềnh

Tạm nương cái thế quân bình trên thơ…”

(Thư 19/2/1985).

Anh có nhắc đến bài Niềm Riêng viết đêm giao thừa 1979 để tặng Lộc Đình nhưng viết xong xếp đó chưa dám đưa cho Lộc Đình vì sợ xúc phạm lòng ưa lối “bố thí ly tướng” của ảnh.

– Nay – Giản Chi nói – Anh ấy đã ra người thiên cổ tôi nghĩ ít nhất cũng phải trình anh là bạn thâm giao chung của chúng tôi. Sau này tôi sẽ khấn Lộc Đình và xin phép đất gởi đến Tiềm Linh anh ấy.Không thì tôi không yên tâm.

Trong số bạn thân còn sống ở Miền Nam, Giản Chi là người hiểu và yêu kính Lộc Đình hơn hết, mà cũng là người được Lộc Đình gởi gắm tâm sự nhiều hơn hết. Nhớ người đã khuất, nhớ người xưa, đêm đêm lòng tôi thổn thức:

Tỉnh giấc song thơ nhớ bạn già
Nhớ người đã khuất nhớ người xa
Quay lòng ngó lại bao năm trước
Che mắt dường như mấy bữa qua
Sân vắng lá bay cành gió nhẹ
Đồi cao sương ánh giọt trăng tà
Thương mình nữa gối canh dư nửa
Trắng lạnh lùng hiên bưởi ngát hoa

Và đêm rằm tháng bảy vừa qua, làm lễ Vu Lan xong, tôi đem cuốn CHÁU BÀ NỘI TỘI BÀ NGOẠI của Lộc Đình ra đọc lại. Tập này anh viết tết Vu Lan năm 2518 Phật lịch (1974). Đọc mới mấy trang đầu, lòng tôi bồi hồi, ảo não… không đọc được nữa. Tôi xếp sách, ngồi khóc một mình.

Nha Trang, tháng 9 năm 1985

HẾT


————
[1] Câu đố của Giản Chi: Tảo thành: thành tựu sớm. Danh sơn nghiệp: Danh sơn sự nghiệp ngày xưa làm sách không công bố được như sách Sử ký của Tư Mã Thiên – đem giấu ở chốn danh sơn để mong đợi đời sau biết đến, nên gọi sự nghiệp trước tác, nhất là tác phẩm chưa hành thế, và Danh sơn Sự nghiêp). Thống khốc: Khóc một cách đau đớn. Mệnh thế tài: Tài của người có tiếng trong đời.

Bài có được từ internet từ đã lâu nay quên mất nguồn. 😦

Hồi Ký Quách Tấn về Nguyễn Hiến Lê

Tôi có được bản “Hồi Ký Quách Tấn” nói rất nhiều về Nguyễn Hiến Lê (NHL). Quên mất ai bỏ công gõ bản này (thành thật xin lỗi). Nhà thơ đất Bình Định Quách Tấn kể nhiều chuyện về NHL ứng xử mà tôi nghĩ ta có thể học được nhiều. Anh em muốn biết thì tôi post (thành nhiều kỳ). Không có comment thì có nghĩa ta không quan tâm. Tôi sẽ không làm tốn bandwidth. 🙂

Nguyễn Hiến Lê một “TRÍ THỨC CHÂN CHÍNH”

Mấy tuần trước, tôi có dịp đi Houston và ghé vào một hiệu sách VN. Thấy cuốn “Hồi Ký” của  Nguyễn Hiến Lê, tôi mừng húm định mua. Nhưng khi biết rằng cuốn này được xuất bản bởi nhà XB Văn Hóa ở VN và sau khi đọc lời dẫn, tôi không mua nữa. Bạn sẽ thấy tại sao ở cuối bài này. Tôi xin phép mạo muội bàn một chút về con người đáng kính NHL.

Trong những nhân vật VN được gọi là “làm văn hóa” (nhà văn, thi sĩ, dịch giả, sử gia, soạn nhạc …), tôi vẫn cho rằng cụ Nguyễn Hiến Lê là người xứng đáng nhất được gọi là “NGƯỜI TRÍ THỨC”.

Thế hệ hậu bối noi gương được ở ông nhiều thứ: gương tự học, tinh thần làm việc nghiêm túc, và nhất là nhân cách cao thượng của một người trí thức chân chính.

Tại sao tôi nhìn nhận NHL là một “TRÍ THỨC CHÂN CHÍNH” và “QUÂN TỬ”?

Tôi luôn nghĩ rằng NHL là một người con ưu tú của VN mà cả trăm năm nước ta mới sản sinh được. Các Trần văn Khê, Trịnh Công Sơn (TCS), Phạm Duy (PD),… về nhân cách hay công lao đều phải xếp chiếu dưới!

Một số bạn sẽ hỏi, ông này ghê gớm thế mà sao mình hổng biết? Tôi sẽ hỏi bạn rằng Einstein và ban Beatles ai nổi tiếng hơn ai? Khi cái XH bị lái bởi tivi và truyền thông câu khách thì bạn rõ rồi! Trịnh và Phạm thì nổi như cồn bởi được đánh bóng hơi quá mức. Cái ảnh hưởng văn hóa của họ thì có nhưng không thể so sánh với cụ Nguyễn được. Hơn nữa, nhân cách của TCS và PD thì tôi có hơi nghi ngờ!

Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) là một nhà văn, một học giả, một nhà giáo dục và hoạt động văn hóa độc lập, với hơn 100 tác phẩm biên soạn và dịch thuật để đời có giá trị, thuộc đủ mọi lãnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký…

Nguyễn Hiến Lê quê ở làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội. Xuất thân từ một gia đình nhà Nho, ông học tại Hà Nội, trước ở trường Yên Phụ, sau lên Trường Bưởi. Năm 1934, ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội vào làm việc tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ bắt đầu quãng đời nửa thế kỷ gắn bó với Nam bộ. Sau năm 1945, ông thôi làm ở sở, đi dạy học ở Long Xuyên. Năm 1952 chuyển lên Sài Gòn mở nhà xuất bản và biên dịch sách, sáng tác, viết báo.

Năm 1925, Nguyễn Hiến Lê thi vô trường Bưởi (Collège du Protectorat), nhưng rớt; năm sau đậu. Học tới đệ Tứ niên, thường nhất lớp. ở trường Bưởi, ông được học với các bậc thầy tên tuổi đáng kính như: Dương Quảng Hàm, tác giả Việt Nam Văn học Sử yếu, Việt Nam Thi văn Hợp tuyển; Thẩm Quỳnh, dịch giả Kinh Thư; Nguyễn Gia Tường, anh của danh họa Nguyễn Gia Trí… Lần lượt, Nguyễn Hiến Lê thi đậu Cao đẳng Tiểu học (Diplôme d’Etudes primaires supérieures franco indigène); thi vào trường Cao đẳng Công chánh đậu thủ khoa, được học nội trú và hàng tháng lãnh sáu đồng rưỡi học bổng. Thi tốt nghiệp tháng 6-1934, đậu hạng sáu. Tháng 10, được bổ vào làm việc trong Nam. Sau này, khoảng tháng 02-1944 (tháng Giêng Giáp Thân), ông có trở ra Bắc thi vô ngạch kỹ sư công chánh, nhưng không đậu. Sở Thủy lợi ở Long Xuyên giao ông công tác đo mực nước ở miền Tây.

 

NHL không có bằng ĐH. Cái bằng công chánh của ông thời ấy chắc chỉ tương đương lớp 12 bây giờ là cùng. Nhưng sức tự học và làm việc của ông thì khủng khiếp! Người có bằng cấp đến TS đi nữa mà không tự học (chờ thày dạy) hay làm việc (nghỉ tay khi có bằng cấp) có gọi là trí thức không?

Cái quan trọng hơn nữa là nhân cách. Một anh TS điếm đàng, xu nịnh để lên chức có gọi là trí thức? Xem thử bài gần đây của Nguyễn Tiến Dzũng trên Dân Luận thi rõ.

Cụ NHL không “trực tiếp” làm chính trị, nhưng cả đời cụ đau đáu lo việc cho đời, bằng cách thế hoạt động của riêng mình: ngòi bút. Ông tin ở các giá trị nhân văn như một yếu tố sức mạnh tinh thần có ý nghĩa quyết định cho tương lai của dân tộc hơn là những hành động chính trị nhất thời. Ông đã tận tụy làm việc độc lập trong cả hai chế độ cho đến những ngày cuối đời để lay động trái tim con người nhằm phổ biến và cổ vũ cho những ý tưởng nhân bản thâu góp từ đông tây kim cổ mà ông thấu hiểu và đề nghị mọi người chia sẻ như là căn bản của một nền chính trị bền vững khả dĩ mang lại cuộc sống phát triển trong ổn định và ấm no hạnh phúc của nhân dân.

Sức tự học và làm việc của ông phải được kính nể và học tập. Đọc các sách dịch của ông về triết học từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim và nhìn lại cơ sở học vấn và bằng cấp của ông sẽ thấy rõ sư tự học của ông đến cõ nào. Văn ông viết rất trong sang, dễ hiểu và mang chút tự sư. Ông diễn giải những cái khó hiểu (kinh Dịch chẳng hạn) rất nhẹ nhàng như muốn truyền lại cái hiểu của một người tự học cho người đọc. Vì vậy sách ông viết rất hấp dẫn, không hoa hòe mà vẫn chứa đựng những cái thâm sâu của của con người có suy nghĩ sâu sắc và độc lập. Ông có bảo ông viết s’ach cũng là để học và để hiểu rõ hơn cái ông đã đọc. Hình như Spivak cũng áp dụng cách này.


Theo những người biết ông, đời sống bản thân ông khiêm tốn, giản dị, làm việc nhiều hưởng thụ ít, không thích ồn ào, nhưng tư tưởng, tâm hướng và lòng ông thì thật sâu kín, rộng rãi, nồng nàn, có lẽ vì thế mà viết ra điều gì cũng với lời văn giản dị, dễ hiểu, trung thực với ý mình. Ông luôn đứng về phía những người lao động nghèo khổ mà cả một thời thơ ấu hàn vi ông đã từng trải qua. Không nhân danh một chủ thuyết chính trị nào, ông đã mạnh dạn phê phán những hành vi sai trái của các nhà đương cuộc mà ông luôn quy trách nhiệm chính cho những tình trạng suy bại xã hội của mọi thời.

 Trước sau ông không xu phụ, thỏa hiệp với giới cầm quyền đương thời để được hưởng những đặc quyền trong xã hội. Chính quyền trước 75 tặng ông một giải thưởng văn hóa cao nhất  mà thiên hạ đấu đá nhau để có, ông đã từ chối. Bộ văn hóa mời ông cộng tác, ông cũng không ra. Ông muốn mình được độc lập để ngòi bút ông không bị ảnh hưởng hay bị uốn cong. NHL có cảm tình với miền Bắc vì chán ngán cái bộ máy trong miền Nam. Cũng như nhiều người khác trong Nam, bị mộng tưởng, ông nghĩ rằng cái bộ máy miền Bắc chắc khá hơn. Sau 75, ông ngã ngửa khi nhìn thấy sự thật. Ông không hề tham gia mà về Long Xuyên ở ẩn, viết sách. Không xu thời, độc lập viết và suy nghĩ. Đó là trí thức NHL!

Bạn thử ngó lại những “trí thức” hay “nhà văn hóa” bây giờ để so sánh với NHL.

Tâm huyết của ông cũng không được đời đáp ứng là bao, nên không tránh khỏi có những lúc phải ngậm ngùi chua xót cho sự bất lực của mình trước thời cuộc. Có người viết về ông dùng đoạn sau của Tô Thức, một tác giả Trung Quốc ông yêu thích và dẫn chứng, để tả tâm sự của ông: Thẹn hoài cho người nước này, đau xót như có gai đâm trong da thịt, bình sinh đọc năm ngàn quyển sách, nhưng không có một chữ nào cứu đói cho dân được.

Một con đường nhỏ giờ đã được mang tên ông. Có thể rằng ông Nguyễn Hiến Lê sẽ cảm thấy ái ngại khi người ta nói tốt quá nhiều về ông, hoặc đặt cho ông một cái tên đường, vì xem ra cùng lắm ông chỉ vui vui được đời hiểu thôi chứ chẳng thích trở thành vĩ đại, mà chỉ muốn lặng lẽ đóng góp theo khả năng và tấm lòng chân thành của mình một phần bổ ích nào đó cho những người cùng thời và nhất là cho thế hệ trẻ mà trước ông gọi là thế hệ ngày mai.


Để hiểu Nguyễn Hiến Lê và biết rõ chân giá trị những tác phẩm của ông hơn, cũng như chí hướng và lòng tinh thành mà ông đã gởi gắm hết vào, ta có thể xem tập Hồi ký (NXB Văn Học, 1993) và Đời viết văn của tôi do ông tự viết (NXB Văn Hóa, 1996).

Tuy nhiên, tôi không mua cuốn sách của  Hồi kí Nguyễn Hiến Lê do Nhà xuất bản Văn học, Thành phố Hồ Chí Minh tái bản lần thứ sáu, năm 2006,  vì khi đọc lời dẫn tôi thấy mấy đoạn sau.

“Ngòi bút của Nguyễn Hiến Lê, tâm hồn và con tim Nguyễn Hiến Lê ngay từ đầu đã thuộc về nhân dân, những người lao động, những ai cực khổ, bần hàn và bất hạnh. Niềm tự hào về dòng giống, tổ tiên và nỗi đau về dân tộc trước những cuộc ngoại xâm đã kéo Nguyễn Hiến Lê, một nhà văn luôn ý thức lánh xa những gì phù phiếm như chức tước, địa vị và sự giàu sang không lương thiện xích gần với Cách mạng và tự coi mình là người của Cách mạng, bởi lẽ dễ hiểu, những điều Cách mạng đang làm cũng chính là mơ ước của ông.”

Ừ, NHL muốn cách mạng vì ông thấy cần đổi mới. Có điều muốn nói rõ là Cách mạng kiểu gì!

“Trên tinh thần tôn trọng một học giả nghiêm túc và được nhiều người mến mộ, kính nể ấy, Nhà xuất bản Văn học trân trọng giới thiệu cuốn hồi kí của ông. Tuy là hồi kí một người, một nhà văn, nhưng qua đấy người đọc cảm nhận được xã hội Việt Nam xuyên suốt hai cuộc kháng chiến chống xâm lược mà nét hào hùng lẫn những vệt máu và nước mắt vẫn còn thấm đẫm mới rọi trên từng trang sử của dân tộc chúng ta. Từng sự kiện, từng con người (từ nhà chính khách cho đến nhà văn…) đều được cách nhìn Nguyễn Hiến Lê soi rọi và đánh giá.”

“Vì tác giả đã mất, Nhà xuất bản không thể cắt bỏ nhiều quá.”

 

WHAT! Vậy tác giả mà còn sống thì sẽ cắt bỏ nhiều hơn hay cấm ?!

 

 Trong quá trình biên tập, chúng tôi chỉ lược bớt phần rườm rà và cắt những chỗ không thể nào để lại được. Chúng tôi mong bạn đọc thông cảm.”

 


“…chỗ không thể nào để lại được” ? Tại sao không thể? Chỉ đạo từ trung ương? Ahah, vì không bẻ cong được ngòi bút NHL như đã làm được với những người khác. Ta se CẮT (xin thong cảm nhé, mà không thong cảm thì làm gì nhau?)

 

Đó là cái cách mạng NHL muốn “gần”???

 

Tôi tin là không! Vì sau đây là các đoạn bị cắt bỏ (tui tìm thấy trên Talawas) và nó nói lên cái suy nghĩ của NHL về cái XH sau 75 mà ông hy vọng nó sẽ tốt hơn trước.

Xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam sau năm 1975 qua cuốn Hồi kí của học giả Nguyễn Hiến Lê

Cảm tình của tôi với kháng chiến

Tôi vốn có cảm tình với Việt Minh, với cộng sản; ghét thực dân Pháp, Mĩ, nhất là từ 1965 khi Mĩ đổ quân ào ạt vào miền Nam; tôi khinh những chính phủ bù nhìn của Pháp, Mĩ. Tôi phục tinh thần hi sinh, có kỉ luật của anh em kháng chiến và mỗi lần có thể giúp họ được gì thì tôi sẵn lòng giúp.

Chế độ mới

Ai cũng biết chế độ cộng sản là chế độ độc đảng, chuyên chế của giai cấp vô sản… Họ nắm hết cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, nếu trong nước có đảng dân chủ, đảng xã hội thì những đảng này cũng phải theo đường lối của đảng cộng sản, không thể độc lập, đối lập được… Bất kể việc lớn nhỏ gì cũng do đảng quyết định hết, cơ quan nào dù lớn, quan trọng tới mấy cũng chỉ có việc thừa hành.

Dưới đây tôi ghi vắn tắt những điều tôi thấy về chế độ cộng sản ở miền Nam. Tôi không chép nhật kí, mà kí tính tôi mấy năm nay suy; tôi lại chỉ sống ở Sài Gòn, giao du ít, nên nhận xét của tôi chắc chắn là thiếu sót, có thể sai nữa, sai nhiếu nhất là năm, tháng. Tôi sẽ ráng giữ tinh thần khách quan và trung thực.

Hành chánh

Tổ chức
Một gia đình (cha mẹ, con cái, anh em, bà con…) ăn chung, ở chung với nhau thì thành một hộ… Ba bốn chục nhà (thường gồm bốn năm chục hộ) họp lại thành một tổ… Tổ trưởng là gạch nối giữa chính quyền và nhân dân, loan báo chỉ thị của chính quyền xuống nhân dân, đạo đạt nguyện vọng của nhân dân lên chíng quyền… Tổ trưởng thường ít học nên hay nói, nói dai, đáng lẽ 15 phút xong thì kéo dài cả giờ, giờ rưỡi, mất thì giờ của dân…

Và hãy đọc một chuyện vui về “cán bộ ba d.” của ông:

Thỉnh thoảng lại có buổi học tập chính trị do cán bộ, thường là công an tới giảng cho 5-6 tổ gồm trên trăm học viên… Trình độ văn hoá của cán bộ chỉ vào hạng có tiểu học, bài học rất chán, mà cũng có một số người vỗ tay khen, có khi chưa hết câu đã vỗ tay, khiến cho các học viên miễn cưỡng vỗ tay theo. Trò đó có vẻ lố bịch, sau dân chúng phá bằng cách đáng lẽ chỉ vỗ tay một thì họ vỗ tay hai, kéo dài ra, bọn nịnh kia thấy ngượng phải bỏ… Tôi nhớ lời này của một bạn ở Hà Nội vào: “Bọn cán bộ đó nói dài, nói dai, nói dở, gọi là cán bộ ba d.”

Nhiều tổ họp thành một khóm… Phường có công sở lớn, nhiều phòng: hành chánh, y tế, giáo dục, kinh tế, công an… dân trong phường bầu đại diện, đại diện lại bầu một hội đồng nhân dân, chủ tịch hội đồng này là phường trưởng. Cách thức bầu cũng như bầu quốc hội. Đảng lập danh sách những người Đảng cho phép ứng cử… và dân chỉ được bầu cho những người đó. Chỉ là vấn đề hình thức. Dân đi bầu khắp mặt cho xong việc, không cần biết kết quả ra sao. Ứng cử viên chẳng cần ra mắt quốc dân. Riêng tôi suốt 5 năm không thấy mặt ông chủ tịch uỷ ban nhân dân phường một lần nào, hai lần xin gặp mặt thì cô thư kí bảo ông ấy đi vắng cả hai… Trên phường là quận… Trên quận là thành phố… do nhân dân trong tỉnh bầu lên theo cách thức đã kể trên.

Sở nào cũng rất nhiều nhân viên mà công việc thì ít, vì giám đốc sở nào cũng đưa người thân hay người quen vào làm. Người ta gởi gắm lẫn nhau. Một cán bộ cao cấp chủ nhiệm hay phó chủ nhiệm một tờ báo nọ có lần bảo tôi, tờ báo của ông ta có non 100 nhân viên (trước ngày 30-4-75 một tờ báo như vậy chỉ có vài chục nhân viên mà lại nhiều trang, nhiều bài hơn), dư người rồi; vậy mà sáu tháng sau khi ông ta giao lại toà soạn cho một cán bộ khác, thì số nhân viên đã tăng lên tới 170; có những “kí giả” tới toà soạn mà chẳng có việc gì làm, nói chuyện láo một lúc, sửa một cột ấn cảo rồi đi dạo phố hoặc về nhà, tự thẹn mang tiếng kí giả mà cả năm không hề viết một hàng chữ cho tờ báo.

Nhân viên càng nhiều, công việc lại càng bê bối. Vì cái nạn bè phái tranh giành nhau, dẫm chân lên nhau, không ai chịu trách nhiệm cả, ai cũng đùn công việc cho người khác.

Tinh thần nhân viên

Đa số công sở rất dơ dáy, lộn xộn, nhân viên nấu ăn ngay trong phòng giấy. Vào nhiều công sở ta có cảm tưởng vào những nhà việc ở thôn quê Nam Việt nửa thế kỉ trước: có 3-4 bàn giấy nhưng chỉ có hai nhân viên ngồi nói chuyện phiếm bên một bình trà, mấy cái chén, chỉ khác là có thêm một bình điếu thuốc lào. Nhân viên tới giờ nào thì tới.

Đói thì không làm việc được, công việc bê trễ, người ta chán nản, xin thôi… Xin thôi không được thì người ta cứ ngang nhiên bỏ sở; hoặc ở lại thì làm tà tà, lấy lệ… Có kẻ ỳ ra không làm gì cả.

Hình như người ta không có một kế hoạch, chương trình gì cả, ra lệnh rồi phản lệnh liền liền mà tới giờ chót mới thông báo cho nhân viên hay; máy móc mua về đủ rồi mà vì lẽ này lẽ khác, không dùng tới, để cho nó sét. Rồi còn cái tệ dưới không tuân lệnh trên, một phần do tinh thần bè phái, một phần do chính sách địa phương tự trị… Đó là cái nạn cán nặng hơn gáo.

Tôi không kể những cái bê bối trong công sở: đánh mất hồ sơ, thụt két, ăn cắp của công, kho vật liệu không có sổ sách, cứ ít tháng lại thấy mất đồ mà không tìm ra được thủ phạm, v.v…, vì nếu kể thì dài quá.

Tỉnh huyện lập ra nhiều cơ quan quá thì phải xây cất thêm nhiều, tịch thu nhà cửa đất đai của dân. Theo hiến pháp, tư sản được tôn trọng. Chỉ bọn tư bản bóc lột, một số nguỵ quân nguỵ quyền có tội nặng và những người vượt biên “chui” (lén) mới bị tịch thu nhà cửa. Nhưng một số cán bộ nhỏ muốn dâng công hoặc vì tư thù, tư lợi, tịch thu bừa bãi nhà cửa, đồ đạc của dân… Còn các gia đình có mặc cảm tội lỗi thì đành chịu ức hiếp: đương đêm quân đội tới bắt dọn đồ đạc ra đường để chúng chiếm nhà. Tệ đó gây bao phẫn uất trong dân chúng, các ông lớn ở trung ương có biết cho không?

Cán bộ cao cấp và trung cấp còn biết những sở đoản của chế độ, lẽ nào các nhà lãnh đạo và đảng không biết. Tôi cho rằng người ta biết đấy, nhưng đó là bệnh cố hữu (inhérent) của chế độ, không thể chữa được, trừ phi có một cuộc thay đổi lớn lao mà không ai dám nghĩ tới.

Ngân hàng – Hưu bổng – Đổi tiền

Công việc đầu tiên của chính quyền 30-4-75 là chiếm hết các ngân hàng, các sở ngân khố. Không còn ngân hàng của tư nhân mà cũng không còn sở ngân khố…

Ai gửi tiền ở ngân hàng quốc gia mà mua công khố phiếu (tức quốc trái, được lời nhiều hơn là gửi ngân hàng tư: 30% mỗi năm, chứ không phải là 24%) thì chính phủ không trả cho đồng nào hết, vì đó là nợ của chính phủ Nguyễn Văn Thiệu, mà Thiệu đã lưu vong, ôm hết quí kim đi rồi. Nhiều người ở trong trường hợp đó.

Nhà tôi buồn vì chính quyền không cho lãnh tiền hưu bổng (khoảng 30 đồng mới, 15.000 đồng cũ một tháng) mà không cho hay ngay, cứ làm thinh, bắt mỗi tháng lại sở hưu bổng hỏi han, chầu chực, như vậy hai năm, tới khi thấy người ta hạ cái bảng tên sở đi mới tuyệt vọng, không trông vào số tiền dưỡng lão đó nữa.

Còn hoàn cảnh của những nạn nhân khác thì sao?

Biết bao người ở trong trường hợp đó, nhiều người nghèo không trông cậy vào đâu được, phải tự tử. Có người đã mất hết số tiền và tư trang gởi ngân hàng, rồi lại mất luôn tiền hưu trí, hoá điên.

Chính sách đổi tiền của chính phủ càng thất nhân tâm hơn nữa. Vụ đổi tiền thứ nhất xẩy ra tháng chín hay tháng mười 1975, và xẩy ra rất đột ngột. Sáng sớm hôm đó dân chúng mới hay rằng phải đổi tiền nội trong 24 giờ và mỗi người dân già trẻ lớn bé được đổi một số tiền là bao nhiêu đó tôi quên rồi, chỉ còn nhớ số tiền này như gia đình tôi chỉ đủ tiêu trong một tháng hay tháng rưỡi là cùng… rất nhiều người phẫn uất, tuyệt vọng; có người tự tử, có người đốt hằng thúng giấy bạc, hoặc từ trên lầu vãi giấy bạc xuống đường, không ai thèm lượm; ở Mỹ Tho, nhiều tiệm Trung Hoa thồn giấy bạc vào cà roòng, thả trôi sông.

Ba năm sau, năm 1978 lại đổi tiền một lần nữa, mà lần này ở khắp nước. Cũng đột ngột, cũng hạn chế số tiền được đổi, nhưng có tổ chức hơn, đỡ khổ cho dân… Vụ đổi tiền năm 1978 làm Bắc Việt xôn xao cũng bằng ở trong Nam, và cũng có đủ các tệ như ở Nam… Lần này người ta biết tin trước vài ngày: ai có nhiều tiền (ở Bắc cũng như ở Nam) cũng tung tiền ra mua vàng, xe đạp, vải, tủ lạnh, chén đĩa, bất kì thứ gì với bất cứ giá nào… Có người không biết mua gì, năn nỉ hàng xóm để lại cho con gà, con vịt. Người nghèo có từ nải chuối trở đi cũng đem đi bán. Ở Bắc có kẻ nhiều tiền quá thồn cả vào một cái bao, chở trên xe đạp, đến một chỗ vắng, làm bộ đánh rớt xuống đường rồi phóng đi như bay. Hạn chế, kiểm soát rất gắt, vậy mà ở Hà Nội ngay tối đêm mới đổi tiền, công an lại xét một nhà thấy một số tiền gấp trăm số gia đình đó được phép đổi. Và chính phủ cũng phải làm ngơ.

Sau một phần tư thế kỉ được giáo hoá mà như vậy thì chúng ta phải kết luận ra sao? Có chế độ nào thay đổi được bản tính con người trong một hai thế kỉ không? Bao giờ mới đào tạo được con người xã hội chủ nghĩa để họ xây dựng xã hội chủ nghĩa đây, như Hồ Chủ tịch nói?

Nông nghiệp

Về nông nghiệp, hai nước cộng sản đàn anh Nga và Trung Hoa đều thất bại. Sau 60 năm làm cách mạng, Nga vẫn thiếu lúa mì, phải mua của Mĩ, mà đất đai Nga Xô rất rộng chứ; Trung Hoa thì sau 30 năm, dân vẫn thiếu gạo, thiếu thịt.

Ông thầy của chúng ta đã thất bại thì ta làm sao không thất bại được?… Hỏi thăm các bạn ở Bắc, ai cũng bảo hợp tác xã nông nghiệp ngoài đó, xét chung, thất bại, chỉ trừ một vài nơi ở Thái Bình… Trong nhiều hợp tác xã còn đất bỏ hoang, vì khó khai phá, không có lợi… Ở trong Nam mấy năm đầu dân phải đóng thuế nặng, lúa bị thu mua nhiều quá với giá rẻ mạt, phân bón, thuốc trừ sâu, xăng nhớt lại bị cán bộ ăn cắp bán chợ đen v.v… Do đó nông dân chán ngán, không ham sản xuất.

Chúng ta đừng nên quá tự tín, tự hào, mà nên so sánh nước mình với các nước láng giềng cũng nông nghiệp như mình, đất rộng cũng như mình, tức Thái Lan, Miến Điện… Quá tin ở sự khai phá đất hoang lại càng không nên.

Tóm lại tôi nghĩ rằng hoà bình trở lại, lo sản xuất lúa gạo để đủ nuôi dân đã là may, không mong gì làm giàu được. Năm 1975 tôi trình bày lại ý đó với một cán bộ cách mạng, họ cho tôi là bi quan, bảo: “Dân tộc mình thắng được Mĩ, hùng cường thứ nhì Đông Á, chỉ 5 năm nữa thì kinh tế mình sẽ thịnh, hai chục năm nữa sẽ đuổi kịp Nhật rồi vượt họ.”… Có những người dễ tin bánh vẽ quá. Họ thật sung sướng, tối chắc ngủ ngon.

Một nguyên nhân thất bại nữa của chính sách nông nghiệp là thiếu kĩ thuật gia giỏi… từ ngày 30-4-75, các công tác thuỷ lợi hầu hết do các cán bộ nông thôn mới học hết cấp I (hết tiểu học) điều khiển. Các đồng chí ấy bất chấp kinh nghiệm của nông dân, đã dốt mà lại độc đoán… Cán bộ của mình không được học, không biết tính toán gì cả (một cán bộ tài chánh xã mà không biết chia 72 cho 24), mạnh làng nào làng ấy đào, chẳng hề xét hậu quả gì bất lợi cho làng bên hay không; và kết quả nhiều khi trái ngược với ý muốn… Người ta đào kinh rất nhiều, miền nào cũng khoe đào được mấy chục con kinh, mấy trăm cây số kinh trong một mùa nắng. Có tốn kém gì đâu. Chỉ cần bắt thanh niên làm xâu, làm càng nhiều càng được tiếng “vinh quang”. Tới nỗi có miền dân phải ta thán, đặt ra câu ca dao này:

Mồ cha thằng Thiệu dời dinh,
Để tao ở lại đào kinh suốt đời.

Tập cho thanh niên lao động chân tay, góp sức vào việc kiến thiết quê hương là điều tốt, nhưng người ta phí sức dân quá. Dân do đó thấy tủi cho thân phận mình: trong thời chống Pháp, chống Mĩ, dân hi sinh cho anh em kháng chiến, bây giờ bị coi như nô lệ.

Phân phối

Xuất cảng chỉ còn than đá, xi măng, cao su – hơn hay kém trước tôi không biết – những hàng lặt vặt như bia, đồ hộp, tranh sơn mài, tôm… thì không đáng kể, mà mỗi năm một suy như đã nói ở trên. Nhập cảng cũng rất ít vì thiếu ngoại tệ, cho nên thứ gì cần lắm như xăng, nhớt, bột mì, máy móc mới bất đắc dĩ phải nhập khẩu; ngay đến dược phẩm cũng đành chịu thiếu thốn.

Đánh tư bản

Hồi 30-4-75, ai cũng biết tư bản sẽ bị đập, thương mãi bị dẹp. Cho nên khi chính quyền ra lệnh các nhà buôn, nhà kinh doanh có môn bài, cửa tiệm phải đăng kí (kê khai), còn những thứ hàng nào, mỗi thứ bao nhiêu, giá bao nhiêu… (các người cho thuê nhà cũng phải khai) thì những người thức thời làm bản kê khai rồi tặng chính phủ. Trái lại, một nhà xuất bản và nhà sách khác lớn hơn nhiều, tin rằng mình làm ăn đứng đắn, quen nhiều nhà văn cách mạng, sẽ được yên, nên chỉ tặng chính phủ một phần nhỏ tài sản thôi và rốt cuộc mất gần hết nhẵn mà lại phải đi cải tạo mấy năm…

Chiến dịch kiểm kê đầu tiên để đập tư bản xẩy ra cuối năm 1976. Chính phủ đã chuẩn bị kĩ lưỡng, dùng rất nhiều sinh viên, thanh niên, nhốt họ trong trường hay trong cơ quan, không cho về nhà, không cho tiếp xúc với người ngoài, dạy cho họ trong một tuần (?) cách thức kiểm kê ra sao, phát giác những chỗ giấu đồ ra sao – nhất là vàng, kim cương – của bọn tư bản. Thành phố xôn xao dữ dội… Sau vụ đó, một số người bỗng hoá ra giàu. Hậu quả là tài sản của giới này chuyển qua giới khác một phần lớn, chính phủ được hưởng một phần nhỏ.

Phân phối nhu yếu phẩm

Năm 1975, trong nước còn nhiều sản phẩm nên mỗi tháng mỗi người dân ở thành phố được mua đủ gạo ăn, một hay nửa kí đường, một ít thịt cá, xà bông, dầu lửa…

Năm 1979, sản phẩm trong nước cạn dần, chính phủ phân phối cho dân được rất ít: gạo, bo bo, mì sợi may ra còn được đủ, còn những thứ khác thì năm thì mười hoạ mới được một chút ít… nhưng hạng cán bộ cao cấp có tiêu chuẩn riêng, có “bìa”, thì được phân phối quá đầy đủ…

Đó là chính sách chung của các nước trong phe chủ nghĩa xã hội… Việt Nam y hệt Nga và còn thua Trung Hoa một bực. Ở Trung Hoa, Mao chia giới cán bộ thành 30 cấp (thời Chiến quốc, Trung Hoa chỉ có 10 cấp thôi, theo sách tả truyện), mỗi cấp có tiêu chuẩn, đặc quyền riêng…

Giáo dục – văn hoá

Giáo dục

Chính quyền rất coi trọng giáo dục, mở rất nhiều nhà trẻ, trường học từ mẫu giáo tới đại học. Giáo dục mới đầu hoàn toàn miễn phí, do đó có vẻ rất bình đẳng. Ở đại học, sinh viên nào cũng được trợ cấp mỗi tháng 18 đồng, tuy không đủ, nhưng cũng đỡ cho cha mẹ. Dĩ nhiên phải như vậy, nếu không thì không ai cho con học đại học được. Các đồng bào thiểu số cũng được dạy dỗ như người Kinh, đó cũng là điểm đáng khen nữa.

… sách giáo khoa mà sai – và vẫn thường sai – chẳng hạn bảo Sài Gòn nằm trên bờ sông Cửu Long thì tất cả các giáo viên cũng phải dạy sai như vậy, không được phép sửa; rồi báo cáo lên ti, ti lên bộ. Chỉ có bộ mới có quyền sửa sai, và phải hai ba năm sau, in sách mới, người ta mới sửa. Tôi thấy kì cục quá, không tin nổi, năm sau hỏi một giáo sư đại học Hà Nội, ông xác nhận là đúng: cái gì Bộ Giáo dục in thì phải coi là pháp điển, phải tuân theo triệt để.

Tôi hiểu chính sách của người ta rồi: luyện tinh thần kỉ luật, làm tiêu ma óc phán đoán, ý chí cá nhân; và tôi không trách một đứa cháu tôi ở Hà Nội, một cán bộ cao cấp, vào hạng trí thức, năm nay trên 60 tuổi, có tú tài Pháp hồi thế chiến thứ nhì mà không có một chút tinh thần phê phán nào hết, trên nói sao thì tin vậy, đúng như người Pháp nói; có thể “avaler touts sorts de couleuvres”.

Muốn vô đại học thì sức học không quan trọng bằng lí lịch… Ra trường chắc chắn được bổ dụng… Thủ trưởng bắt làm gì cũng phải làm: cán sự điện tử mà làm lao công, dược sĩ mà giữ kho… Vì tất cả những lẽ trên, ở Nam thanh niên chán học, số học sinh lớp 12 kém xa năm 1974…

Một điểm tấn bộ là chính quyền mở nhiều lớp bổ túc văn hoá cho công nhân viên, cán bộ… Có đủ các cấp I, II, III. Vài cán bộ y sĩ, dược sĩ bốn năm chục tuổi, thời kháng chiến không được học, nay học bổ túc từ lớp tư, lớp năm… Học xong mỗi khoá phải thi. Nhưng thi rất dễ. Nghe nói có thầy đọc câu trả lời cho thí sinh chép, vì bắt những cán bộ mấy chục tuổi đảng thi lại hoài thì cũng kì, mà lại bị cấp trên trách là không biết dạy. Tiện hơn hết là cho đậu bừa đi. Ai cũng biết đó chỉ là hình thức. Có dược sĩ trình độ mới tới lớp tư, học rút trong hai năm hết lớp 10, như vậy đủ rồi. Một nhân viên công an cấp cho tôi giấy phép đi đường một tháng mà đề từ 31-1 đến 31-2-1980.

Văn hoá

Một trong công việc đầu tiên của chính quyền là huỷ tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của Bộ Văn hoá nguỵ, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Quí Đôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt.

Năm 1975, Sở Thông tin Văn hoá TP Hồ Chí Minh đã bắt các nhà xuất bản hễ sách nào còn giữ trong kho thì phải nạp hai hay ba bản để kiểm duyệt… ra chỉ thị cho mỗi quận phái thanh niên đi xét sách phản động, đồi truỵ trong mỗi nhà để đem về đốt. Bọn thanh niên đó đa số không biết ngoại ngữ, sách Việt cũng ít đọc, mà bảo họ kiểm duyệt như vậy thì tất nhiên phải làm bậy. Họ vào mỗi nhà, thấy sách Pháp, Anh là lượm, bất kì loại gì; sách Việt thì cứ tiểu thuyết là thu hết, chẳng kể nội dung ra sao. Họ không thể vào hết từng nhà được, ghét nhà nào, hoặc công an chỉ nhà nào là vô nhà đó.

Lần thứ nhì năm 1978 mới làm xôn xao dư luận. Cứ theo đúng chỉ thị “ba huỷ”, chỉ được giữ những sách khoa học tự nhiên, còn bao nhiêu phải huỷ hết, vì nếu không phải là loại phản động (một huỷ), thì cũng là đồi truỵ (hai huỷ), không phải phản động, đồi truỵ thì cũng là lạc hậu (ba huỷ), và mỗi nhà chỉ còn giữ được vài cuốn, nhiều lắm là vài mươi cuốn tự điển, toán, vật lí…

… năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc huỷ sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh huỷ hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kĩ thuật, các tự điển thôi; như vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lí, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của ông cha mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh phụ ngâm… in ở trong Nam đều phải huỷ ráo.

Một độc giả lập một danh sách các tác phẩm của tôi mà ông ta có trong nhà, đem lại Sở Thông tin hỏi thứ nào được phép giữ lại, nhân viên thông tin chẳng cần ngó tên sách, khoát tay bảo: Huỷ hết, huỷ hết.

Sau ngày 30-4-75, tôi muốn tìm hiểu cách mạng Nga từ 1917 đến 1945, nhờ mấy bạn cách mạng tìm sách cho, họ bảo chính họ cũng không được đọc vì không thấy một cuốn nào cả. Sau tôi mới biết rằng loại đó ngay ở Nga cũng không ai được phép viết. Như vậy kiến thức hạng trí thức ngoài đó ra sao, ta có thể đoán được…

Một cán bộ khác cho tôi hay ở Hà Nội người nào có được 50 cuốn sách là nhiều rồi. Anh ta mới thấy ba trong số 9 tủ sách của tôi đã bảo nhà tôi nhiều sách như một thư viện. Nhà bác học Sakharov trong một bài báo tôi đã dẫn, bảo ở Nga không có đời sống tinh thần (vie intellectuelle). Chúng ta có thể tin lời đó được.

Và đây là trí thức của tầng lớp cán bộ văn hoá chỉ huy:

Một nhà văn hợp tác với Viện Khoa học Xã hội lại nhờ tôi giới thiệu cho mươi nhà văn, học giả giỏi tiếng Anh và tiếng Việt để dịch cho viện bộ Bách khoa tự điển Anh gồm 25 cuốn, mà phải dịch gấp vì đó là chỉ thị của một ông “bự”. Tôi bảo có 50 nhà dịch cũng không làm nổi vì phải tạo hằng ức danh từ mới (riêng ngành Informatique trong 30 năm nay đã có một vạn thuật ngữ rồi); mà ví dụ có dịch nổi thì cũng phải mất ít nhất mười năm mới xong; xong rồi lại phải dịch lại hoặc bổ túc rất nhiều vì lỗi thời mất rồi: ở Anh, mỗi năm người ta sửa chữa, bổ túc, in lại một lần; rồi lại phải bỏ cả chục năm nữa, không biết có in xong được không. Xong rồi, bán cho ai, ai đủ tiền mua? Cán bộ văn hoá vào hàng chỉ huy mà dốt tới mức đó!

Trị dân mà không biết một chút gì về tình cảnh của dân cả. Họ có vận dụng trí óc của họ không?

Còn hạng nông dân ngoài Bắc thì khờ khạo, ngớ ngẩn so với nông dân trong này không khác gì một người ở rừng núi với một người ở tỉnh. Mấy anh bộ đội bị nhồi sọ, trước 1975 cứ tin rằng miền Nam này nghèo đói không có bát ăn, sau 30-4-75, vô Sài Gòn, loá mắt lên, mới thấy thượng cấp các anh nói láo hết hoặc cũng chẳng biết gì hơn các anh.

Tóm lại, chính sách là chỉ cho dân được nói theo một chiều, trông thấy một hướng; nên chỉ một số rất ít giữ được tinh thần phê phán, nhưng chẳng thi thố được gì, sống nghèo khổ, bất mãn.

Y tế

Dân trong ấp, xã bị bệnh thì lại họ (nhân viên y tế nông thôn) trước, họ không trị được thì đưa ngay lên quận; quận có bác sĩ đa khoa, trị không được thì đưa ra tỉnh; tỉnh có bác sĩ chuyên khoa, đủ dụng cụ, đủ thuốc… Lần lần nhân viên y tế nông thôn vừa làm việc vừa học thêm, có thể lãnh trách nhiệm quan trọng hơn, đưa lên giúp việc ở quận. Chính sách đó rất họp lí và chính quyền mình cũng đã áp dụng nó. Đó là một điểm tấn bộ.

Trình độ nhân viên y tế:

Nhưng vì chiến tranh, nhân viên y tế các cấp của mình da số ít được học, nên chúng ta thấy những y sĩ (y sĩ Bắc có quyền ra toa, nhưng kém bác sĩ một bực), học chỉ tới lớp năm (hết cấp I), chỉ biết dăm chục tên thuốc, không biết đo huyết áp, không biết thế nào là đau mắt hột… chỉ đáng làm một nhân viên y tế nông thôn thôi. Còn bác sĩ được đào tạo ở Bắc thì xét chung, sự hiểu biết cũng kém xa bác sĩ đào tạo ở Nam… Nhân viên y tế nông thôn cũng thiếu, tinh thần trách nhiệm rất thấp: một huyện nọ người ta tiêm thuốc ngừa dịch tả cho ba người lớn và chín trẻ em thì tám trẻ chết.

Tệ nhất là nạn thiếu thuốc, thiếu cả thuốc đỏ, thuốc tím, do đó sinh ra nạn ăn cắp thuốc, ra toa cho người không có bệnh để họ bán thuốc chợ đen.

Cũng may mà có hằng trăm ngàn kiều bào ở ngoại quốc gửi thuốc về giúp thân nhân, nếu không sức khoẻ của dân sa sút không biết tới đâu.

Tệ nhất là nạn thiếu vệ sinh… từ cơ quan tới đường sá, tư gia, đâu đâu cũng dơ dáy… Nhiều cơ quan nuôi gà, heo ngay trong phòng của họ, và từ trên lầu thượng họ trút nươc dơ xuống đường. Phòng bệnh nhân trong các bệnh viện hôi hám không chịu nổi; phải bịt mũi khi đi tới gần cầu tiêu… người ta phóng uế đầy đường.

Gần cuối kế hoạch năm năm đầu tiên (1976-1980), người ta làm một “chiến dịch” vệ sinh để “dứt điểm” và người ta lựa ngay khu sạch sẽ nhất trong thị xã làm “thí điểm”, phái một nhóm người đi xịt thuốc DDT cho từng nhà; thuốc đã pha loãng nhiều rồi mà lại chỉ xịt vài phòng tối, vài bụi cây thôi. Không cần xem xét chỗ chứa rác, cầu tiêu. Thế là xong chiến dịch, có thể báo cáo lên trung ương là đã dứt điểm.

Chính sách, đường lối tuy đúng mà thiếu người, thiếu phương tiện, thiếu tinh thần thì cũng hoá dở.

Tư pháp

Từ năm 1975, trường luật bị bãi bỏ. Sinh viên luật có thể xin chuyển qua ngành kinh tế, ra làm các ngân hàng. Nhưng đa số bỏ học, làm phu khuân vác, đạp xích lô… Đó là chuyện 1975. Nay thì thanh niên trí thức làm đủ các việc lao động rồi, bổ củi mướn, chở cát, vác gạo…, không ai ngạc nhiên, mà cũng không ai thương hại cho họ nữa, họ dễ dàng kiếm được vài ba chục đồng một ngày mà lại tự do, chứ không làm thư kí ngân hàng 40 đồng một tháng thì sống sao nổi. Vả lại lao động là vinh quang mà. Nữ sinh viên thì bán thuốc lá rời hoặc quần áo cũ ở lề đường.

Trong Nam trước năm 1975 chưa có bộ luật mới, tạm dùng bộ luật cũ. Còn ở Bắc bỏ luật cũ mà không có luật mới (nghe nói năm 1981 người ta mới tính thảo bộ luật mới), không có trường luật thì tôi không hiểu người ta dạy xử án ra sao.

Năm 1975 có lần tổ chúng tôi họp để xử một người trong tổ mắc một tội nào đó tôi không nhớ. Ông tổ trưởng đề nghị hai cách trừng trị… Cách nào được nhiều người đồng ý thì theo cách đó… Khi phường có toà án nhân dân rồi (năm 1978?) thì để toà xử. Một “ông toà” là học trò cũ của một bạn tôi. Tôi hỏi cậu ta: “Cháu xử theo luật nào?” Cậu ta cười, đáp: Cháu đặt ra luật để xử – Thực vậy sao? – Dạ, bây giờ ai đặt luật cũng được. Vì có bộ luật nào đâu?

Tuy nhiên:

Cũng có luật sư do chính quyền chỉ định để bênh vực cho bị cáo… Chính phủ bênh vực giai cấp vô sản; hạng bần dân dù bị tội nặng cũng xử nhẹ – trừ tội phản động dĩ nhiên.

Và:

Hiến pháp vẫn trọng quyền tư hữu nhỏ, nhưng đảng còn trọng lập trường giai cấp hơn. Giai cấp được trọng nhất là giai cấp đảng viên, như giai cấp quí tộc đời Chu ba ngàn năm trước… Giai cấp yên thân nhất là giai cấp vô gia cư, vô nghề nghiệp.

Xã hội sa đoạ

Ở tỉnh nào cũng có một số cán bộ tham nhũng, cấu kết với nhau thành một tổ chức ăn đút ăn lót một cách trắng trợn, không cần phải lén lút. Có giá biểu đàng hoàng…

Nếu một cán bộ nào bị dân tố cáo nhiều quá thì người ta cũng điều tra, đưa cán bộ đó tới một cơ quan khác (có khi còn dễ kiếm ăn hơn cơ quan cũ), đem người khác (cũng tham nhũng nữa) lại thay. Ít tháng sau dân chúng nguôi ngoai rồi, người ta lại đưa kẻ có tội về chỗ cũ. Người ta bên vực nhau (cũng là đảng viên cả mà) vì ăn chịu với nhau rồi. Dân thấy vậy, chán, không phí sức tố cáo nữa. Có người còn bảo: “Chống chúng làm gì? Nên khuyến khích chúng sa đoạ thêm chứ để chúng mau sụp đổ…”

Lớn ăn cắp lớn, nhỏ ăn cắp nhỏ. Ăn cắp nhỏ thì chỉ bị đuổi chớ không bị tội, vì “họ nghèo nên phải ăn cắp”, mà nhốt khám họ thì chỉ tốn gạo nuôi… Ăn cắp lớn, không thể ỉm được thì phải điều tra, bắt giam ít lâu, rồi nhân một lễ lớn nào đó, ân xá; không xin ân xá cho họ được thì đồng đảng tổ chức cho vượt ngục rồi cùng với gia đình vượt biên yên ổn.

Và vô số những tệ nạn khác:

Nạn “phe phẩy” (buôn lậu, làm chợ đen) còn bành trướng hơn nữa… Người ta nói đã có những vụ buôn lậu thuốc phiện; nếu cò thì cũng nhỏ thôi, kém xa thời Mĩ, Thiệu. Nhưng đồ lậu như vải, thuốc thơm, thuốc tây… thì khoảng một năm nay lan tràn thị trường…

Có đồ lậu thì luôn luôn có đồ giả… nhiều nhất là dược phẩm Tây phương, vì thứ này vừa hiếm vừa đắt… Chỉ khổ dân quê…

Nạn cờ bạc không công khai như trước, nhưng nạn “xổ số đuôi” thì công khai rồi…

Nạn cho vay nặng lãi cũng kinh khủng… Bạn hàng ở chợ không chơi hụi tháng như xưa nữa, mà chơi hụi tuần, hụi ngày!

Nạn đĩ điếm đã hết đâu. Ngay cuối năm 1975, một cán bộ cách mạng đã bảo các bạn kháng chiến ở bưng về mắc bệnh hoa liễu hết rồi; một số cán bộ rất nghiêm trang đạo mạo – có kẻ ngoài 70 tuổi – từ Hà Nội vào, năn nỉ các bạn trong Nam chỉ chỗ cho họ hưởng thú mê li một lần cho biết mùi… Họ rất thích sách khiêu dâm…

Con người mất nhân phẩm

Trong một xã hội như vậy, con người dễ mất hết nhân phẩm, hoá ra đê tiện, tham lam, bất lương, nói láo, không còn tình người gì cả.

Năm 1975 đa số các cán bộ, công nhân viên ở Bắc vào thăm gia đình, họ hàng ở trong Nam, còn giữ chút thể diện “cách mạng”, bà con trong này tặng họ gì thì họ nhận, chứ không đòi; về sau họ không giữ kẽ nữa, tặng họ một thì họ xin hai, không tặng họ cũng đòi, khiến một ông bạn tôi bực mình, nhất định đóng cửa không tiếp một người bà con, bạn bè nào ở Bắc vào nữa…

Đa số cán bộ ở Nam đã tư bản hoá rồi, một xã hội chủ nghĩa xã hội mà như vậy thì chủ nghĩa đó chỉ còn cái tên thôi.

Một nhà văn đất Bắc làm cho một tờ báo nọ nhờ một nhà văn trong Nam viết bài, hứa sẽ trả bao nhiêu đó. Viết rồi, đưa họ, họ đăng, nhưng kí tên của họ rồi đưa cho nhà văn trong Nam nửa số tiền nhuận bút thôi, còn họ giữ lại một nửa. Vừa ăn cắp văn, vừa ăn chặn tiền. Chưa bao giờ miền Nam có bọn cầm bút bẩn thỉu như vậy. Một bạn học giả của tôi ở Bắc khuyên tôi đừng giao bản thảo của tôi cho ai hết, không tin ai được cả, họ sẽ đạo văn.

Cái mất tình người:

Sống dưới chế độ cộng sản, con người hoá ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia… Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó…

Nạn làm tiền, tống tiền lan tràn khắp các ngành, cả trong ngành cứu nhân độ thế và ngành tống táng.

Tất cả chỉ tại cái lệ chính phủ định giá, định lương rẻ quá không cho dân đủ sống, dân phải xoay xở lấy, bóc lột lẫn nhau. Cổ kim chưa một xã hội nào phi lí như vậy. Vì biết mình phi lí nên có nơi chính quyền làm ngơ cho bác sĩ làm ăn, cho phép các giáo viên nguỵ dạy thêm tại nhà.

Nói cho ngay, thời nào trong xã hội cũng có một số người lương thiện. Và ông Phạm Văn Đồng đã nhận rằng thời này hạng đó thiệt thòi nhất. Tôi được biết một hai cán bộ trung cấp liêm khiết, chịu nghèo, nuôi heo thêm, chứ không tham nhũng. Gia đình họ phải ăn rau muống; quần áo thì vá đụp; có thể nói họ nghèo như các nông dân nghèo nhất thời xưa.

Tóm lại sau 5 năm chúng ta không thấy chút tiến bộ nào cả mà chỉ thấy sự chia rẽ trong xã hội, sự tan rã trong gia đình, sự sa đoạ của con người, sự suy sụp của kinh tế.

Phong trào vượt biên

Tôi không biết trước giờ giải phóng, từ Bến Hải trở vào, trong số trên 20 triệu dân có bao nhiêu người vội vã di cư để trốn cộng sản… Người nào cũng có tâm trạng não nề: bỏ quê cha đất tổ, bỏ thân thích bạn bè, bỏ cả sản nghiệp… để qua nước người ăn nhờ ở đậu, làm thứ công dân “da màu”, một thứ công dân hạng hai, và bắt đầu xây dựng lại từ đầu; như vậy ai mà vui cho được? Những người đi đó hoặc là quân nhân, công chức trong các chính phủ trước, hoặc đã có thời sống với cộng sản ở Bắc, sợ chế độ ngoài đó, đã di cư một lần nay lại di cư lần thứ hai. Những người ở lại, xét chung, đều sẵn sàng chấp nhận chế độ mới, dù chưa biết rõ nó ra sao; một số đông còn hăng hái tiếp tay với chính quyền mới để xây dựng một xã hội tốt đẹp cho tương lai nữa.

Nhưng chẳng bao lâu nhiều người thất vọng, qua năm 1976, đã có lác đác một số thanh niên vượt biên… Từ năm 1977 người ta dùng đường biển, phong trào vượt biên phát triển rất mạnh tới mức một bà già nông dân miền Tây phải nói: “ Cây cột đèn nếu đi được thì cũng đi”. Dù phải gian lao cực khổ tới mức nào, hễ ra khỏi được nước là sướng rồi, làm mồi cho cá mập vẫn còn hơn ờ lại trong nước mà chết dần chết mòn, người ta nghĩ vậy…

Có ba cách vượt biên. Cách chính thức, sướng nhất là có người thân, cha mẹ, vợ chồng hay con cái ở ngoại quốc xin cho được đoàn tụ gia đình…. Cách bán chính thức, theo nguyên tắc, cho người Việt gốc Hoa, nhưng người gốc Việt mà muốn thành gốc Hoa thì cũng không khó. Có tiền là được hết… Cách thứ ba lá đi chui, nghĩa là đi lậu. Một người đứng ra tổ chức… đút lót cho công an, chính quyền ở làng có bãi biển, đút lút cả cho công an vài nơi chung quanh để người vượt biên khỏi bị xét hỏi, thuyền yên ổn được rời bến ban đêm. Công an những nơi có bãi biển đó nhờ vậy làm giàu rất mau, có kẻ chỉ một hai năm được vài chục lượng vàng và ôm vàng vượt biên. Do đó mà trong dân gian xuất hiện một truyện tiếu lâm dưới đây.

“Môt hôm nọ, người canh Lăng Bác Hồ bỗng thấy xác ướp của bác biến đâu mất, hoảng hốt đi tìm khắp nơi, tìm ở nhà sàn của Bác không thấy, vế quê hương Bác ở Nghệ An cũng không thấy, nghi rằng bác vào chơi thành phố của Bác, liền vào Sài Gòn kiếm, sau cùng một đêm, thấy bác ngồi một mình, rầu rĩ ở bến Sáu Kho, Thành phố Hồ Chí Minh, hỏi bác, sao lại ra ngồi đấy, Bác đáp: “Bác không muốn ở nước này nữa, muốn qua phương Tây đây, mà tụi công an đòi Bác sáu cây, Bác có cây đâu mà nộp cho chúng”.

Thường là thoát được, ít khi gặp tàu tuần; nhưng nhiều khi gặp bão, thuyền chìm, làm mồi cho cá mập’ hoặc gặp bọn cướp biển Thái Lan… Mặc dầu nguy hiểm như vậy, người ta vẫn không sợ, thua keo này bày keo khác. Có người lần thứ tư mới thoát, lại có người lần thứ 10 vẫn chưa thoát, mà sản nghiệp tiêu tán hết, không biết sống bằng gì…

Từ cuối 1979 thêm một cách vượt biên nữa bằng đường bộ, ngã Cao Miên… Cũng nguy hiểm như vượt biển.

Người nào vượt biên được một nước nào tiếp thu rồi, được trợ cấp hay kiếm được việc làm rồi, cũng gởi ngay về cho thân nhân một gói thực phẩm, thuốc uống, quần áo… bán được một hai ngàn đồng. Họ làm lụng cực khổ, (rửa chén trong quán ăn…) nhịn hút thuốc để giúp gia đình vì biết rằng người ở lại thiếu thốn gấp mười họ. Chính nhờ họ mà nhiều gia đình miền Nam mới sống nổi, nhờ họ một phần mà dân miền Nam có thuốc tây để uống, có vải may quần áo, không đến nỗi rách rưới quá. Trong hoạn nạn tình cha mẹ, con cái, vợ ơhồng lúc này lại đằm thắm hơn xưa. Cái rủi thành cái may.

Về vật chất họ được đầy đủ, nhưng về tinh thần họ rất đau khổ. Nhờ bà con họ hàng, nhớ quê hương xứ sở, nhớ day dứt, gia diết. Họ khóc thương thân phận anh hay em ở trong các trại cải tạo mỗi bữa chỉ được nắm bo bo; thân phận cha mẹ chú bác phải đẩy chiếc xe bán củi, bán chuối dưới mưa, dưới nắng, đau ốm không có thuốc uống; thân phận con cháu quanh năm không được một li sữa, một cục đường… Có những thiếu phụ thay đổi hẳn tính tình: ở nước nhà thì thích trang điểm, dạo phố, họp bạn; qua nước người thì suốt ngày ở trong phòng lau chùi, quét tước, nấu ăn cho chồng con, không chịu ra đường, chồng con lôi kéo cũng không đi; một ngày kia họ sẽ loạn tinh thần mất. Khổ nhất là những bà 50-60 tuổi, không biết ngoại ngữ, không sao thích ứng được với đời sống Tây phương, mới xa quê được một năm đã đòi về, ngày nào cũng ngóng tin nhà, và được thư thì đọc đi đọc lại tới thuộc lòng. Ngày đêm họ quay băng “Sài Gòn ơi, li biệt” của Thanh Thuý, băng “Ta chẳng lẽ suốt đời lưu vong” của Phạm Duy mà khóc mướt. Giọng ảo não không kém bài hát dân tộc Do thái khi bị đày ở Babylon hồi xưa…

Thân phận của những người miền Nam ở lại:

Trong số những người ở lại, đáng thương nhất là những cặp vợ chồng già không có con cái, bị chính phủ chặn lương hưu trí, ráng sống lây lất vài năm bán hết đồ đạc để ăn rồi tự tử.

Rồi tới những người sản nghiệp tiêu tan vì đi kinh tế mới hoặc vì vượt biên mấy lần mà thất bại, sống cầu bơ cầu bất ở vỉa hè các thành phố lớn nhỏ như bọn ăn mày.

Rồi những cô giáo, cô kí chồng đi cải tạo 5 năm đằng đẵng, ở nhà xoay xở đủ cách, làm việc đêm ngày, nhịn ăn nhịn mặc để nuôi bốn năm đứa con, vài tháng lại tiếp tế cho chồng một lần. Họ vì hoàn cảnh mà hoá đảm đang, tư cách lại cao lên, không chịu nhận sự giúp đỡ của họ hàng, bạn bè.

Rồi những thiếu nữ học hết đại học Sư phạm hay Luật mà không muốn làm công nhân viên vì lương thấp quá, kiếm một cái sạp nhỏ nửa thước vuông bán thuốc rời hay quần áo cũ, thuốc tây ở lề đường, vất vả nhưng kiếm được 10-15 đồng mỗi ngày, đủ cơm cháo cho cha mẹ và em. Họ lễ phép, chăm chỉ, dễ thương.

Tất cả những người đó và còn nhiều hạng người khác nữa đáng tự hào là nguỵ. Nguỵ mà như vậy còn đáng quí gấp trăm bọn tự xưng là “cách mạng” mà tư cách đê tiện.

Người ta đã nhận định sai

Vậy dù có lạc quan tới mấy cũng phải nhận rằng công việc xã hội hoá miền Nam này tới nay đã thất bại. Chỉ mới dựng được cái sườn thôi mà đã có nhiều dấu hiệu tỏ rằng sườn đó đã nghiêng ngả: rất nhiều cán bộ đã hủ hoá, hùng hục làm giàu bằng mọi cách, thành một bọn tư sản rồi, tinh thần quân đội đã sa sút, hợp tác xã nông nghiệp đã thất bại, chính sách kinh tế mới phải bãi bỏ; một vài địa phương đã rụt rè lập lại chế độ tư bản…

Ngành nào cũng kẹt, kẹt cứng, chính quyền không biết xoay xở ra sao, vá chỗ này thì toạc chỗ khác, càng dùng những biện pháp nhất thời thì càng lúng túng. Ngay các các bộ trung kiên cũng phải nhận rằng tình hình mấy năm sắp tới còn nguy kịch hơn… Thật bi đát.

Chỉ tại người ta đã tính lầm. Thắng được Mĩ rồi, người ta tin rằng sẽ làm bá chủ bán đảo Đông dương, không nhận định được đúng tình hình thế giới.

Người ta nhận định sai tài năng, đạo đức, tinh thần hi sinh của cán bộ, tưởng rằng cao lắm và có thể dễ dành kiến thiết miền Nam thành một xã hội xã hội chủ nghĩa, không ngờ cán bộ tuy rất đông mà rất kém cỏi về mọi mặt, mà tối đại đa số không ưa xã hội chủ nghĩa, thích đời sống miền Nam hơn.

Người ta nhận định sai về tình trạng miền Nam. Trước ngày 30-4-75, miền Nam rất chia rẽ: nhiều giáo phái, đảng phái nhưng tiến bộ hơn miền Bắc nhiều về mức sống, kĩ thuật, nghệ thuật, văn hoá; nhờ ngôn luận được tương đối tự do, nhờ được đọc sách báo ngoại quốc, biết tin tức thế giới, du lịch ngoại quốc, tiếp xúc với người ngoại quốc…; cả về đạo đức nữa: vì đủ ăn, người ta ít thèm khát mọi thứ, ít gian tham (tôi nói số đông), ít chịu làm cái việc bỉ ổi là tố cáo người hàng xóm [Một thím làm tổ phó lo về đời sống, được công an phường gọi đi học tập. Mới hết buổi đầu, thấy công an chỉ dạy cách dò xét, tố cáo đồng bào (ăn uống ra sao, chỉ trích chính phủ không, khách khứa là hạng người nào…), thím ta xin thôi liền, về nói với bạn: “Tôi không làm công việc thất đức đó được”. Lớp học đó bỏ luôn] chứ đừng nói người thân, nói chung là không có hành động nhơ nhớp như nhiều cán bộ ở Bắc tôi đã kể ở trên. Tôi còn nhận thấy vì người Nam bị coi là nguỵ hết, nên càng đoàn kết với nhau, thương nhau: cùng là nguỵ với nhau mà!

Như vậy mà đưa cán bộ Bắc vào cai trị họ, dạy chính trị họ thì làm sao không thất bại? Bọn đó quê mùa, ngu dốt, nghèo khổ, vụng về, tự cao tự đại, bị người Nam khinh ra mặt, mỉa mai; lớp dạy chính trị cho dân chúng mỗi ngày một vắng, hiện nay cả năm không họp một lần.

Một thất bại nặng nề của cách giáo hoá đó là báo Nhân dân không ai đọc, người ta mua về để bán “ve chai”, ngay cả bộ Lénine toàn tập cũng vậy.

Sau 5 năm, cả triệu cán bộ và thường dân Bắc vào Nam mà Bắc Nam miễn cưỡng sống với nhau, lơ là vói nhau, Nam coi Bắc là bọn thực dân, tự coi mình là bị trị. Làm gì có sự hợp tác?

Sự khinh rẻ giữa Bắc – Nam:

Người Bắc coi người Nam là nguỵ, đối xử người Nam như những thực dân da trắng đối với dân “bản xứ”, tự cao tự đại, tự cho rằng về điểm nào cũng giỏi hơn người Nam, đã thắng được Mĩ thì cái gì cũng làm được. Chỉ cho họ chỗ sai lầm trong công việc thì họ bịt miệng người ta bằng câu: “Tôi là kháng chiến, anh là nguỵ thì tôi mới có lí, anh đừng nói nữa”. Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ Chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hoá, kĩ thuật – điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học – thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẩy nhau… Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là nguỵ nữa, vì nguỵ có tư cách hơn kháng chiến. Và người ta đâm ra thất vọng khi thấy chân diện mục của một số anh em cách mạng đó, thấy vài nét của xã hội miền Bắc: bạn bè hàng xóm tố cáo lẫn nhau, con cái không dám nhận cha mẹ, học trò cấp II đêm tới đón đường cô giáo để bóp vú… Thì ra: “Nhìn xa ngỡ tượng tô vàng…”

Và trong chăn mới biết có rận:

Ngay giữa các đồng chí cũng không có tinh thần đoàn kết…Chính vì thiếu đoàn kết nên trong cuộc hội họp nào người ta cũng hô hào “Đoàn kết, đại đoàn kết”. Còn ở trong phòng họp thì ai cũng hoan hô tinh thần đoàn kết, ra khỏi phòng rồi thì hết đoàn kết. Người ta chỉ đoàn kết với nhau vì quyền lợi thôi; do đó mà có tinh thần bè phái, gia đình trị, và miền Bắc có câu này: nhất thân, nhì thế, tam quyền, tứ chế.

Có người nói một số “ông lớn” đi đâu cũng có người hầu xách bình nước sâm Cao Li để ông lớn uống thay trà; một ông nọ luôn luôn có một bác sĩ ở bên và một thiếu nữ quạt hầu vì ông không chịu được quạt máy. Tôi không biết những tin đó đúng hay không, chỉ biết những tin đó do “anh em cách mạng” đưa ra cả…

Sài Gòn đưọc giải phóng vài năm thì ta thấy xuất hiện ngay một hạng giàu sang mới nổi, thay thế bọn giàu sang thời Thiệu,, và cũng thích những xa xí phẩm (áo hàng thêu, hột xoàn, máy điều hoà không khí v.v…) của thời Thiệu. Tiền đâu mà họ mua những thứ đó nhỉ?

Sự bất công chướng nhất, tàn nhẫn nhất là lương công nhân viên từ năm 1975 cứ đứng yên trong khi sự phân phối nhu yếu phẩm giảm đi gần hết, chỉ còn gạo, bo bo là tạm đủ, nhất là trong khi mãi lực của đồng bạc năm 1980 chỉ còn 1/10 năm 1975; thành thử lương một công nhân viên chỉ đủ để mua củi chụm, lương một bác sĩ mới ra trường chỉ đủ để mua rau muống ăn. Khắp thế giới không đâu có chế độ lương bổng như vậy. Người nào cũng phải bán đồ đi mà xài, nhờ cha mẹ giúp đỡ, nếu không thì phảo xoay xở mọi cách, làm sao sống được thì làm, chính phủ không biết tới. Một cán bộ ở Hà Nội đã phàn nàn: “Người ta có rất nhiều quyền hành mà không có một chút tinh thần trách nhiệm nào cả. Thật lạ lùng!”

Từ ngày 30-4-75, do những đồng bào ở Bắc vào, chúng ta ở Nam mới lần lần biết cảnh điêu đứng của dân tình ngoài đó sau hai chục năm sống dưới chế độ mới. Từ trên xuống dưới ai cũng phải ăn độn có khi tới 60%-70% (tháng 8-1980, một cán bộ giáo dục ở Hà Nội vào bào tôi bây giờ họ phải ăn độn 90%, cực khổ hơn những năm 1973-1974 nhiều lắm, mà tình trạng đó còn kéo dài lâu. Thân phận không bằng con heo ở trong Nam); có hồi gạo quí tới nỗi người ta cất vào trong những cái thố, cái liễn, trân trọng như nhân sâm, chỉ khi nào đau ốm mới lấy ra một nhúm để nấu cháo; ngày tết mà có đủ gạo nấu cơm cúng ông bà là mừng lắm; khi nào được ăn một bữa cơm không độn với nước mắm thôi thì coi như được dự một bữa tiệc. Nước mắm rất hiếm, có người ở Nghệ An hay Hà Tĩnh mấy năm không có nước mắm ăn, gặp người trong Nam ra đem theo nước mắm, xin một vài muỗng rồi nuốt ực ngay hết, không đợi đem về nhà. Bát ăn mỗi người mỗi năm chỉ được một cái, hễ vỡ thì phải ăn bằng sọ dừa. Vài mỗi năm chỉ được phát một hai thước đủ để vá áo (ở miền Nam năm 1980, có nơi mội người chỉ được 6 tấc). Nhiều người vào Sài Gòn thăm bà con, khi ra vơ vét đủ thứ, từ cây đinh, khúc dây chì, lon sữa bò, ve chai…đem ra, vì ở ngoài đó thường cần dùng tới mà không kiếm đâu ra. Họ cho miền Nam này là thiên đường.

Nhưng một người Ba Lan ở trong Uỷ ban kiểm soát quốc tế năm 1975 bào chỉ trong 5 năm miền Nam sẽ “đuổi kịp miền Bắc”, nghĩa là nghèo như miền Bắc. Lời đó đúng, rất sáng suốt. Nếu không nhờ mấy trăm ngàn kiều bào ở ngoại quốc gởi tiền, thuốc men, thực phẩm, quần áo… về gíup bà con ở đây thì chúng ta ngày nay cũng điêu đứng như anh em miền Bắc rồi.

Dân miền Nam từ xưa chưa bao giờ biết đói, phải ăn độn thì năm 1979 thì đã phải ăn độn 70-80%, có những gia đình phải ăn bữa cơm bữa cháo, có cô giáo và học sinh đói quá, tới lớp té xỉu.

Nhà nào cũng bán đồ cũ đi để ăn; nhiều giáo viên nhà đã trống rỗng, không còn bàn ghế nữa, ăn ngủ trên sàn. Ai cũng chỉ lo sao có cái gì nuốt cho đầy bao tử, chứ không dám nghĩ tới miếng ngon. Tết Canh Thân vừa rồi, ở Long Xuyên, nhà một giáo viên hồi hưu, trên bàn thờ ông bà chỉ bày một đĩa có mấy chiếc bánh phồng và bánh gai, không có một đòn bánh tét, một quả dưa hấu.

Khổ nhất là bọn đi kinh tế mới, thất bại, tiêu tan hết vốn liếng, về Sài Gòn, sống cảnh màn trời chiếu đất, ăn xin, moi các đống rác hôi thối, lượm một miếng giấy vụn, một túi ni lông, một miếng sắt rỉ, một quai dép mủ… để bán cho ‘ve chai’. Trông thấy đống túi ni lông được rửa qua loa trong nước dơ rồi phơi ở lề đường để bán cho tiểu thương đựng hàng, tôi ghê tởm quá.

Ở Bắc tình hình hiện nay điêu đứng hơn những năm kháng Mĩ. Nghe nói ngoài đó đã xuất hiện câu ca dao:


Anh Đồng, anh Duẩn, anh Chinh,
Ba anh có biết dân tình hay không?
Rao muống nửa bó một đồng
Con ăn bố nhịn, đau lòng thằng dân.


Ở Nam có nơi hai tháng nhân viên chưa được lãnh lương, chắc nhiều gia đình không đủ tiền mua rau muống cho con nữa. Một bạn tôi đã phải ăn nước mắm kho khô.

Không có tiền mua rau thì làm gì có tiền mua thịt. Muốn lâu lâu có thịt thì phải nuôi heo, gà, cho nên nhiều cơ quan ngay khi mới thành lập đã nghĩ ngay đến việc hùn tiền (hay lấy trong quĩ?) mua heo con, phân công nhau nuôi tại khu ở tập thể, như vậy đến lễ, tết mới có thịt liên hoan. Người ta thèm thịt quá, cho nên liên hoan lu bù, bất kì một dịp gì cũng liên hoan được… mỗi năm liên hoan cả chục lần là ít… Và khi ngồi vào bàn tiệc thì chẳng ai mời ai, đợi ai, mạnh ai nấy gắp, ăn thật mau (tới nỗi có người bảo cứ nuốt trước rồi sẽ nhai sau!), tệ gấp 10 thói ăn uống ở đình làng mà Ngô tất Tố đã mạt sát trong cuốn Việc làng.

Nghèo thì sinh ra ở bẩn. Ngay trong khu tập thể một trường đại học Hà Nội, phòng một giáo sư ở Pháp về cũng dơ dáy, từ sàn gạch đến tường đều đầy vết bẩn… Dù muốn sống sạch cũng không thể được… Nếu tình trạng không thay đổi thì chỉ mươi năm nữa, toàn dân sẽ quen đi, không thấy gì là bẩn nữa. Hiện nay ở trong Nam đã nhiều nhà để bụi đóng đầy bàn ghế – mà trước kia họ sống rất sạch – mạng nhện giăng đầy trần, còn dân thị xã thì đã quen với cảnh bốn năm người cùi nằm trên đường đưa tới chợ, lăn ở giữa chợ để xin ăn.

Câu “nghèo cho sạch, rách cho thơm” của ông cha, chúng ta không giữ được vì chúng ta nghèo tới mức không thể ở sạch được.

Đủ chưa ?

Chuyện học hành trước 75

Dr. PVT hỏi tui kể chuyện học hành trước 75!

Mấy hôm rày lo chuyện “chuyên môn” dzớ dzẩn (dzui) bây giờ rảnh ra thì viết vài câu bậy bạ (chơi). Nói vậy thôi, chưa đến tuổi viết “hồi ký” nên cũng chẳng dzông dzài đâu! 🙂

Trước 75, tui học trường tiểu học của các bà soeur gần ngã tư bảy hiền trên đường Lê văn Duyệt (nay là Trường Chinh). Đây là một trường tư nhưng không phải dành cho dân nhà giàu (cha tui chỉ là một sĩ quan xoàng, lương đủ ăn). Đi học trường công trước 75 thì không tốn xu teng nào hết nhưng me tui chắc muốn tui thành tu sĩ nên cho tui vào trường này! (Xin lỗi me, tử vi của con không có sao cư trong cung thân! 😦 ) Học phí thì chẳng bao nhiêu nên không thành vấn đề. Chỉ vì nghe nói trường công tụi nó hút thuốc lá nên me tui sợ tui lây tật xấu (rốt cuộc thì sau này vẫn hút!) nên muốn cho tui đi học trường tư cho đàng hoàng chút, chẳng phải do chảnh chọe gì hết. Con nít học trường công không phải đóng tiền mà còn được cho sách vở và uống sữa (của Mỹ viện trợ).

Ngày tui đi học không được thơ mộng như “Tôi đi học” của Thanh Tịnh nhưng vui lắm (so với bọn con nít bây giờ, thấy (và đọc) mà thương!). Buổi sáng đi học, vào lớp lúc 7h, học đến 11h trưa thì nghỉ. Đứa nào không có đạo thì được về nhà, đứa có đạo như tui thì phải ở lại học giáo lý (nhưng được ăn trưa!). Cứ tưởng tượng ta được học CNCS mà được bao cơm trưa và đứa nào không tin CNCS thì được miễn triết học Mác Lênin! 🙂

Lớp một thì học với soeur. Sang lớp hai thì học với các cô (không học giáo lý nữa). Về nhà làm bài tập hết khoảng ½ tiếng. Sau đó ra bắn bi, đánh khăng hay đá banh với lũ bạn trong xóm. Tối đến thì 9h là lên chuồng! Ngoại lệ là bố tui hay lang thang với đám văn nghệ văn gừng nên vừa ăn tối xong thì tui được chỉnh tề tháp tùng ổng ra Đêm Mầu Hồng! Bố tui thì lai rai với bạn văn, tui thì cứ cocacola tha hồi mà nốc. Thái Thanh, Lệ Thu và ban Thăng Long hát ở đó. Có lẽ do vậy mà sau này tui khoái mấy cái nhạc xưa, xa lắc xa lơ. Nhạc mới bây chừ nghe lỗ tai trái nó chui qua lỗ tai phải! Công nhận là tui bị “tẩy não” hay “ngoáy lỗ tai” từ nhỏ! 🙂

Hồi nhỏ tôi khoái môn lịch sử và công dân giáo dục. Lịch sử thì chắc cũng hơi xạo nên con nít ai mà chẳng thích. Môn công dân giáo dục dạy cách đối xử với thày cô, cha mẹ, bạn bè và cả người dưng! Tụi tui được đọc “Les Grande Coeurs” của Amicis hay “Những tâm hồn cao thượng” do Hà Mai Anh dịch (nếu bây giờ dịch ra chắc là “Những trái tim vĩ đại” cho nó có mùi lý tưởng CSCN) rồi đóng kịch theo đó nữa. Chuyện đơn giản mà sao bây giờ tui vẫn nhớ và muốn đọc lại (tìm hoài mà không có bản tiếng Anh!). Còn chuyện về bác Hồ, tui quên ráo! Cái gì đơn giản, thật sẽ sống trong long trẻ. Chuyện bịa đặt sẽ chết theo thời gian!

Tui bị bắt đi học thêm tiếng Pháp vì tiểu học hồi đó không có môn ngoại ngữ. Tinh thần “ta về tắm ao ta” hay “người Việt xài hàng Việt” rất mạnh. Bố tôi khoái Tây hơn Mỹ nên bắt tôi học tiếng Pháp. Dẫu sao, những bài học trong “Civilisation en Francais” về cuộc sống, văn hóa và con người Pháp từ đồng quê đến thị thành làm tôi rất thích và cũng góp phần nào đó trong việc hình thành nhân cách của lũ trẻ tụi tôi. Sau 75, tôi vẫn học tiếng Pháp nhưng đã bắt đầu chán khi những bài văn thường dùng những từ đao to búa lớn khi nói về HCM, CNCS, chiến thắng Pháp Mỹ v.v… Học lấy lệ cho xong! Môn lịch sử thì khỏi bàn. Trước 75, tôi chẳng cần biết hay “bị nhồi sọ” Ngô Đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu là ai, sinh ở đâu, ăn ở ra sao … Tôi chỉ được biết ta đánh Tàu Tây ra sao cho đến khi 1954. Có lẽ thày cô thấy rằng lịch sử sau 54 có nhiều tranh cãi nên tha cho lũ đầu xanh thơ dại chúng tôi. Các anh lớn cỡ lớp 10 trở lên thì chắc phải học mấy cái sau 54. Tôi tin rằng họ phải học sách sử do nha GD viết và chắc chắn trong đó cũng có những điều không chính xác. Dầu sao, ít nhất là con nít như tụi tôi được tha những điều dối trá (Bạn thử hỏi mấy nhi đồng ta bây giờ về anh Lê văn Tám hay Trần Dân Tiên để so sánh).

Hồi nhỏ, tôi háo hức chờ đến chủ nhật để đi lễ với bố tôi tại nhà thờ Đắc Lộ (tên Việt của cha cố Tây Alexander de Rhodes, được nhà Nguyễn và sử CS cho cái danh là gián điệp, người mang cái chữ Việt hay Quốc Ngữ mà ta đang xài đây để vĩnh viễn thoát khỏi cái ảnh hưởng của chữ Hán). Chẳng phải tôi ngoan đạo đâu mà vì sau lễ là bố tôi cho vào một nhà sách của các cha để mua sách. Tôi mê mải vớ các tuần báo của tuổi thơ như Tuổi Hoa, Thiếu Nhi và các sách phiêu lưu của nhà văn Hoàng Đăng Cấp (là thày dạy toán tôi lớp 12!). Tôi mê tuần báo Thiếu Nhi của chủ nhiệm Nguyễn Hùng Trương và chủ bút Nhật Tiến. Chú Nhật Tiến là một cây bút chống cộng kịch liệt nhưng những bài viết của ông trong Thiếu Nhi thì chẳng có chút quốc gia công sản gì hết. Các bài vở chia đều cho danh nhân lịch sử và khoa học, gương sáng làm người, truyện phiêu lưu mạo hiểm … Bác chủ nhiệm Nguyễn Hùng Trương, còn gọi là ông Khai Trí vì ổng là chủ của nhà sách Khai Trí trên đường Lê Lợi, có mục thư chủ nhiệm rất hay vì mỗi bài là có những lời khuyên hay một câu chuyện luân lý đông tây kim cổ được giảng giải một cách dễ hiểu cho lũ con nít. Ông Khai Trí là “một con người đàng hoàng” và có công rất lớn trong văn hóa. Mỗi lần tôi được bố tôi cho vào nhà sách của ông thì tôi tưởng như mình vào công viên vậy. Hầu như là chuyện tất nhiên, cuộc đời ông sau 75 thật tội nghiệp khi được đi cải tạo vì đã góp phần vào việc tuyên truyền văn hóa tư bản đồi trụy. Tôi cho rằng đây là “một trong nhũng” sự ngu xuẩn #1 của chế độ. Bạn có thể xem thêm về ông Khai Trí tại http://www.lenduong.net/spip.php?article13553

Vừa sau 75, các bộ sách của bố tôi thu góp qua bao nhiêu năm đều bị phường tịch thu để tiêu hủy. Thôi thì bỏ qua những Đông Chu liệt quốc, Tam Quốc Chí, hay Dostoievsky v.v., nhưng còn sách của Nguyễn Hiến Lê hay Thiếu Nhi, Tuổi Hoa của tôi? Đốt sách chôn học trò như Tần Thủy thì chưa hẳn nhưng ngu xuẩn, ấu trĩ và bạo cường thì cũng xấp xỉ! 😦

Nói chung, trước 75 tôi được học làm người, được vui chơi với tuổi thơ “khá” trong sáng. Sau 75, thì là một cú shock nặng! Tôi vẫn còn nhớ hồi lớp 7 khi một thằng “bạn học” đang làm chức “anh phụ trách đội” khiển trách tôi vì huýt gió bài Lòng Mẹ của Y Vân và bảo rằng bài này ủy mỵ và phản động. Năm 98, tôi về VN, gặp lại nó đang làm một thư ký của phường. Nó than khổ, tôi dằn lòng không muốn nói “Mày là một thằng ngu và khốn nạn, mong gì hơn ?”.

Tôi nghiệm ra cái khác nhau giữa người và chó. Con người, theo đúng nghĩa, cần nhiều hơn cơm áo. Người đi ở đợ hay làm nô lệ vẫn mong một tương lai sáng hơn và cố gắng để thoát cái xiềng xích mình đang mang. Con chó thì có thể vui và sủa theo chủ vì được chủ thả vòng xích một chút và thẩy cho một miếng xương. Người làm văn hóa cũng vậy!

Khi nào xung thì tôi sẽ bàn về “NGƯỜI TRÍ THỨC” Nguyễn Hiến Lê, một người đã dạy tôi nhiều qua sách của ông. Có lẽ, vui và có ích hơn là viết về HCM như tui đã hứa! 🙂

Chọn Thầy

Bài này tôi tạm giới hạn trong chuyện giáo dục đại học và sau đại học.

Ông bà ta nói: “Không thầy đố mày làm nên”. Theo tình hình giáo dục nước ta hiện nay thì thiết nghĩ nên thêm rằng: “Có thầy thì cũng đố mày làm nên”. Đó là tôi nói chuyện có quá nhiều những kẻ không đáng làm thầy được phép đặt chân lên bục giảng, hay những người không đủ khả năng để hướng dẫn học trò đi xa về sau. Cho nên những người tôn trọng kiến thức, nghiêm túc trong việc học và tạo ra kiến thức mới sau này, cần được sự dẫn dắt của những người Thầy xứng đáng. Tất nhiên ở Việt Nam vẫn còn nhiều người Thầy như vậy, nhưng ngày càng khó kiếm hơn và bạn cần chịu khó đi tìm. Ví như ở khoa Toán DHKHTN, tpHCM, thì số người Thầy như vậy không quá một bàn tay, tính dễ dãi thì không quá hai bàn tay. Bên khoa công nghệ thông tin thì con số này còn thấp hơn. (Ở đây tôi không phủ nhận những đóng góp về mặt giáo dục của các thầy cô khác, nhưng muốn nhấn mạnh ảnh hưởng của người thầy đến sự nghiệp của học trò.) Nếu bạn muốn đi lên cao về đường học vấn thì việc chọn lầm thầy năm cuối đại học hay những năm sau đại học thật là tai hại. Nó sẽ ảnh hưởng đến cả cuộc đời bạn. Tôi khuyên bạn đừng bao giờ mắc sai lầm này.

Sẽ mở rộng sau, dàn ý là như sau:

1. Có học vấn cao, về chuyên môn cần có nghiên cứu , có tầm nhìn sâu, rộng (Việt Nam v.s. Quốc Tế!)
2. Dạy dỗ thấu đáo
3. Đánh giá đúng mức trò, biết được điểm mạnh, yếu của trò
4. Tôn trọng học trò, hướng dẫn và động viên từ những bước đầu nghiên cứu khoa học.

Lên cao về sau:
5. Giao thiệp rộng trong giới nghiên cứu, biết giao thiệp và viết lách
6. Có văn hóa

Chú ý:
7. Trong vài trường hợp, cần chọn thầy vừa sức

(còn tiếp)

Học toán hay không học toán?

A. Các con đường trong toán:

A.1) Học toán vì yêu thích, sau chọn nghiên cứu toán làm sự nghiệp

A.2) Học toán vì yêu thích, sau chọn dạy toán làm sự nghiệp

A.3) Học toán vì yêu thích, sau làm các nghề khác có dùng toán

A.4) Học toán vì yêu thích, sau làm nghề khác không cần đến toán

A.5) Học toán như học nghề để kiếm được việc làm

A.6) Học toán để có cơ hội đi học nước ngoài

B. Khả năng làm toán và sở thích:

B.1) Thích toán, giỏi toán

B.2) Thích toán, không giỏi toán

B.3) Không thích toán, nhưng giỏi toán

B.4) Không thích toán mà cũng không giỏi toán

C. Khả năng làm toán theo thời gian:

C.1) Trước giỏi, sau giỏi

C.2) Trước giỏi, sau dở

C.3) Trước dở , sau giỏi

C.4) Trước dở, sau dở

D. Các chọn lựa
+ Đi đường A1-B1-C1 thì tuyệt
+ Đi đường A5-B4-C4 thì đày thân khổ ải
+ Đi đường nào thì tùy … duyên :-), mục đích, nghị lực của tùng người
+ Đi A.3 hay A.4 trở thành tỷ phú, nếu có lòng thì nhớ quay lại tài trợ cho toán một chút (nhưng đừng phát biểu linh tinh 🙂 )
+ Đối với những người trẻ tuổi, có lòng say mê thì cũng nên thử xem sức mình đi tới đâu. Nếu chưa đánh mà ta chịu khuất, không dám theo đuổi thì … chẳng phải là người Việt.
+ Nếu quyết định theo toán thì nên chuyên nghiệp. Nhiều người lầm nghĩ rằng thời này có thể như … Fermat, làm toán nghiệp dư cũng có thể nghĩ ra điều gì vĩ đại. Về mặt giáo dục, làm toán nghiệp dư không tạo được gương tốt cho những người đi sau.

E. Vài thông tin có ích khác:
Mời xem thêm bài “TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA SINH VIÊN KHOA TOÁN-TIN, ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN TP HỒ CHÍ MINH” của GS Dương Minh Đức và các thông tin khác trên trang web đó.

Hoàng Thạch Luân